Cựu chiến binh

Người lính cụ Hồ

76 tuổi đời, hơn 26 năm khoác áo lính từ 1964 đến 1990, người chiến sĩ hậu cần năm xưa vẫn giữ chất lính Cụ Hồ: giản dị, chân thành và ấm áp. Dù chiến tranh đã lùi xa, ký ức về một thời “không biết đói, không bị rét” nhờ sự chuẩn bị của hậu phương vẫn là điểm tựa để ông kể cho cháu con nghe về lịch sử.

Phú Thọ10/05/2026Đỗ Kim Dung (Đoàn trường THPT Thanh Thuỷ- Đoàn xã Thanh Thuỷ)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Năm 1964, chàng trai Trần Đình Phúc, quê Phú Thọ, tình nguyện nhập ngũ khi tròn 16 tuổi. Ông được biên chế vào Phòng Hậu cần, Sư đoàn 316, với nhiệm vụ chính là đảm bảo xăng dầu, vận tải ô tô, tàu thủy phục vụ chiến trường.

“Ngày ấy đi là tự nguyện, không ai bắt. Cả xã tôi đi được hơn 700 người”, ông Phúc nhớ lại. Từ 1964, ông vào chiến trường miền Nam, từng đóng quân ở Vũng Tàu trong kháng chiến chống Mỹ. Sau năm 1971, ông tiếp tục ở lại quân ngũ, tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, có mặt tại mặt trận Vị Xuyên, Hà Tuyên.

Nhắc về công việc ở Phòng Hậu cần, ông kể: “Hậu cần thì coi đủ thứ. Xăng dầu có, vận tải ô tô có, rồi lái tàu ở biển, ở sông cũng có. Lúc bấy giờ quân đội có cái gì thì ở ngoài có cái đấy. Như các tỉnh có ti vận chuyển, có ô tô, máy kéo, tàu thủy”. Có lần ở Campuchia, kho xăng của đơn vị bị máy bay địch đánh trúng, “cháy hàng băng xăng dầu một thời, tổn thất không phải đơn giản”.

Trang phục thời chiến cũng rất khác. “Võng màn, quần áo chỉ có một bộ thôi. Mãi sau này những năm chín mươi mới đủ. Hồi xưa làm gì có quân hàm, cầu vai, mũ Kê-pi. Mũ tai bèo là nhiều”. Huân huy chương kháng chiến cũng là sau này mới được cấp phát.

Năm 1990, sau hơn 26 năm quân ngũ, ông xuất ngũ trở về quê hương. Từ năm 1998, 1999, ông gia nhập Hội Cựu chiến binh. Ông kể, thời trước bầu cán bộ hội cứ tín nhiệm là làm, không như bây giờ phải có quyết định từ huyện.

2.“Khó khăn thật nhưng không biết đói”

Khi được hỏi về gian khổ, ông cười hiền: “Ông đi khổ thật. Khó khăn thật nhưng mà không biết đói, không bị rét đâu. Gọi là lực lượng hậu cần đưa vào, quần áo quân đi, nói đúng là không thiếu cái gì”. Với ông, đó là nhờ sự chuẩn bị chu đáo từ hậu phương miền Bắc.

Còn những câu chuyện “ăn cơm vắt đánh giặc hai ba ngày” mà sách vở hay nhắc, ông bảo lớp trẻ bây giờ khó tin. “Cơm nước bây giờ đầy đủ rồi, ai nấu cho mà ăn cơm vắt đánh nhau. Thực tế chiến trường khốc liệt hơn nhiều, nhưng người lính vẫn vượt qua được”.

Ông vẫn nhớ như in những đồng đội cùng đơn vị từ năm 1968. “Xã mình đi bảy trăm người, bây giờ còn mấy. Về với tôi chỉ còn ông Tư, mười ba người. Mình phải gọi là đồng đội một thời đấy”. Chứng kiến nhiều anh em trở về không còn lành lặn, cụt tay cụt chân, ông càng thấm thía: “Mất đi một phần thân thể rồi, khó khăn lắm. Đủ chân đủ tay đã khó, người phục vụ càng khó nữa”.

3.Điểm tựa giữa đời thường

Chiến tranh qua đi, người lính hậu cần năm xưa trở về làm một người nông dân bình dị. Ký ức một thời vẫn vẹn nguyên để kể lại cho con cháu. Ông không coi mình là anh hùng, chỉ nhận mình là người lính may mắn còn sống trở về.

Với ông, bài học lớn nhất để lại cho thế hệ sau chính là sự tự nguyện và tinh thần “không thiếu cái gì cho tiền tuyến”. Nghe ông kể chuyện, thấy tự hào về một thế hệ cha anh đã đi qua chiến tranh mà vẫn giữ được sự lạc quan, chân chất đến tận bây giờ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn