Người lính Cụ Hồ suốt đời tận tụy
Tuổi trẻ của Đại tá Trương Văn Côn, nguyên cán bộ Cục Tổ chức (Tổng cục Chính trị) là những năm tháng lăn lộn, xông pha nơi chiến trường miền Nam đánh Mỹ. Đất nước thống nhất, ông không quản gian khổ, hy sinh làm nhiệm vụ quốc tế giúp nước bạn Cam-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng...
Tuổi trẻ của Đại tá Trương Văn Côn, nguyên cán bộ Cục Tổ chức (Tổng cục Chính trị) là những năm tháng lăn lộn, xông pha nơi chiến trường miền Nam đánh Mỹ. Đất nước thống nhất, ông không quản gian khổ, hy sinh làm nhiệm vụ quốc tế giúp nước bạn Cam-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng. Khi được nghỉ hưu, về địa phương, 15 năm liền được tín nhiệm bầu là Bí thư chi bộ, ông tiếp tục tham gia công tác góp phần xây dựng khu dân cư. Cả cuộc đời ông đã nêu một tấm gương tận tụy của người lính Cụ Hồ.
|
Đại tá Trương Văn Côn (đứng giữa) giới thiệu mô hình “Cầu thang văn hóa” ở Khu tập thể A3, phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, TP Hà Nội. |
Những ngày giúp bạn hồi sinh dân tộc
Năm 1979, đáp lại lời kêu gọi của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Cam-pu-chia, Quân tình nguyện Việt Nam đã sang giúp bạn. Ông lúc ấy là Phó chủ nhiệm Chính trị Sư đoàn 307, Quân khu 5, nhận lệnh cùng đơn vị tấn công, truy đuổi Pôn Pốt 15 ngày đêm, giải phóng chiến trường Đông Bắc Cam-pu-chia gồm các tỉnh: Mun-đun-ki-ri; Stung Treng, Rát-ta-na-ki-ri... Nhớ lại những ngày ấy, ông kể: “Ai chưa từng sang Cam-pu-chia ngày mới giải phóng thì không thể cảm nhận được hết hậu quả của nạn diệt chủng mà bè lũ Pôn Pốt để lại. Các thành phố, thị xã đều hoang tàn, đổ nát. Chợ búa, chùa chiền, trường học đều bị phá bỏ. Nhân dân ở nông thôn phần lớn bị giết hoặc bị đói, bị bệnh không có thuốc men mà chết, phần còn lại thì gầy gò, xơ xác, khuôn mặt sợ sệt. Tình hình sau giải phóng rất phức tạp. Khơ-me Đỏ được các thế lực phản động bên ngoài giúp đỡ vẫn duy trì được một phần lực lượng xây dựng căn cứ ở biên giới Cam-pu-chia - Thái Lan và hoạt động khủng bố, quấy rối ở nhiều địa phương. Chiến đấu với Pôn Pốt ở thế cài răng lược, ban ngày chúng giả làm dân, tiếp xúc với ta nhưng ban đêm thì mang quân đến tập kích khiến đơn vị chúng tôi thương vong nhiều. Thời điểm ấy, không phải không có những vấn đề về tâm lý trong anh em. Đó là tâm lý hoài nghi khi ranh giới giữa ta và địch khó nhận diện, là những đồng đội hy sinh chưa được đưa về đất mẹ, là những khó khăn trong bất đồng ngôn ngữ và vô vàn những điều phức tạp khác.
Trong hoàn cảnh ấy, lãnh đạo, chỉ huy đơn vị xác định công tác giáo dục chính trị tư tưởng là vấn đề then chốt. Chúng tôi quán triệt cho cán bộ, chiến sĩ nhiệm vụ giúp bạn cũng chính là bảo vệ Tổ quốc mình nên dù có phải hy sinh xương máu, tính mạng, đó cũng là vinh dự. Xác định khi nào nhân dân Cam-pu-chia ổn định đời sống, chính quyền đứng vững, tự bảo vệ được thành quả cách mạng thì ta rút về nước. Trong công tác dân vận, không được đụng đến cái kim, sợi chỉ của dân, quán triệt quan điểm sang đây không làm gì phiền nhiễu nhân dân, chỉ nhờ bạn nước lã, rau rừng, củi nấu... Một thời gian sau, tình hình đi vào ổn định, cán bộ, chiến sĩ vừa đánh địch, vừa giúp bạn xây dựng quân đội, xây dựng chính quyền cơ sở, ổn định sản xuất. Đơn vị tổ chức cho từng đội tuyên truyền đi học tiếng Cam-pu-chia; xây dựng các hạt nhân chính trị trong dân để họ phát giác cho mình những đối tượng Pôn Pốt cài cắm, sau đó đến tuyên truyền thuyết phục những đối tượng ngoan cố trở về.
Qua tiếp xúc và làm việc hằng ngày, tôi nhận thấy cán bộ và nhân dân Cam-pu-chia vô cùng cảm kích, biết ơn Việt Nam. Họ bảo, bộ đội Việt Nam không chỉ giúp Cam-pu-chia đánh đuổi bọn Pôn Pốt, cứu họ thoát khỏi nạn diệt chủng mà còn giúp cho họ có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Đơn vị chúng tôi nằm trên địa bàn rừng núi, ăn đói, mặc rét nên bệnh đau khớp phổ biến, có những anh em chân sưng không đi được. Khi ấy, những người dân Cam-pu-chia đã vào rừng sâu để lấy thuốc lá về chữa bệnh cho bộ đội. Những bà mẹ đi xa hàng chục cây số để đem quà bánh, nải chuối cho bộ đội Việt Nam ăn Tết cổ truyền, những người đàn ông mang đến cho chúng tôi những loại cá đặc sản đánh bắt được, như họ nói là trước chỉ dùng để dâng những bậc tôn quý”. Tất cả những tình cảm chân thành đó, ông mãi mãi không quên.
|
Cán bộ Phòng Tổ chức Quy chế, Cục Tổ chức (Tổng cục Chính trị) đến thăm gia đình Đại tá Trương Văn Côn. |
Người bí thư chi bộ tận tụy
Năm 1984, sau 6 năm làm nghĩa vụ quốc tế giúp bạn, Đại tá Trương Văn Côn về nước, mang theo tình cảm của người dân đất nước Chùa Tháp xinh đẹp và nỗi nhớ về những ngày cùng đồng đội vào sinh ra tử, chung tay xây dựng đất nước Cam-pu-chia từ trong đau thương. Ông về công tác tại Cục Tổ chức (Tổng cục Chính trị), là Trưởng phòng Tổ chức Quy chế cho đến năm 2001 thì được quân đội cho nghỉ hưu.
Ban đầu, ông nghĩ sau những năm tháng phục vụ quân đội, giờ là lúc nghỉ ngơi, quây quần bên gia đình, con cháu, nhưng khi về sinh hoạt ở chi bộ, ông thấy nhiều cán bộ, đảng viên cao tuổi hơn, có bề dày cống hiến vẫn vui vẻ nhận mọi việc khi được phân công thì mình không có lý do gì để đứng ngoài cuộc. Với suy nghĩ ấy, ông đã hòa nhập vào cuộc sống thường nhật của khu dân cư với nghĩa vụ và trách nhiệm phải hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được phân công. 15 năm liền, ông được tín nhiệm bầu làm Bí thư chi bộ Tổ dân phố 27, Khu tập thể A3, phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, TP Hà Nội. Dưới sự lãnh đạo của chi bộ, cán bộ, đảng viên gương mẫu, nhân dân đồng thuận hưởng ứng, chi bộ ông nhiều năm liền đạt trong sạch vững mạnh tiêu biểu. Một trong những mô hình chi bộ ông xây dựng tạo được dấu ấn, có sức lan tỏa ra cộng đồng là “Cầu thang văn hóa”.
Ông nhớ lại: “Việc xây dựng Cầu thang văn hóa bắt nguồn từ đề xuất của một số đồng chí đảng viên trong chi bộ nên có địa điểm để đọc sách, báo, cập nhật tin tức hằng ngày với những nguồn thông tin chính thống, có định hướng về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, về tình hình kinh tế-xã hội của đất nước, đồng thời cũng là địa điểm cho người dân trong khu dân cư gặp gỡ, trò chuyện, chia sẻ vui buồn, khắc phục tình trạng “đèn nhà ai nhà ấy rạng”... Đại tá Trương Văn Côn trình bày ý tưởng, phân tích cái lợi của mô hình cho mọi người nghe. Ban đầu, nhiều người dân trong khu tập thể còn có ý kiến cho rằng, cầu thang là diện tích chung của mọi người, việc thực hiện mô hình sẽ khiến không gian thêm chật chội và nếu triển khai thì ai sẽ là người trông coi thư viện và lấy đâu nguồn kinh phí để duy trì hoạt động?
Ông nghĩ, muốn xây dựng được mô hình này và duy trì bền vững cần phải có chủ trương lãnh đạo của cấp ủy, chi bộ, các đoàn thể và nhân dân đồng tình. Trước mắt, phải giải quyết được vấn đề địa điểm để triển khai, người phụ trách và nguồn kinh phí để hoạt động. Để giải bài toán này, ông cùng với các đảng viên trong chi bộ vận động thuyết phục 18 hộ dân trong khu tập thể nhường 25m2 mặt bằng cầu thang tầng 1 làm địa điểm triển khai “Cầu thang văn hóa”. Về người quản lý, đã có hai đảng viên trong chi bộ nhiệt tình, tâm huyết, sẵn sàng đảm nhiệm. Vấn đề còn lại cần giải quyết là kinh phí mua sách, báo duy trì hoạt động thì quyết định kêu gọi sự ủng hộ của tất cả các hộ gia đình trong khu tập thể. Rất vui là mọi người đều nhiệt tình hưởng ứng và tích cực đóng góp. Bà con trong tổ mỗi người một tay lau dọn, sắp xếp lại khu vực cầu thang. Chỉ trong vòng một tuần, “Cầu thang văn hóa” đã được hoàn thiện. Tính đến nay, qua hơn 15 năm, số tiền ủng hộ của các hộ dân từ 5 triệu đồng đến nay đã lên đến 100 triệu đồng. Tủ sách giờ đã có hơn 500 đầu sách, gần 20 đầu báo hằng ngày, phục vụ từ 15-20 lượt người đọc, đủ các lứa tuổi mỗi ngày.
Đưa chúng tôi tham quan mô hình “Cầu thang văn hóa”, Đại tá Trương Văn Côn giới thiệu người phụ nữ đang sắp lại các đầu báo cho gọn gàng, chính là vợ của ông. Bà là Thượng tá Đào Thị Anh Tuấn, trước công tác tại Ban Phụ nữ Quân đội. Ông bảo mình may mắn có người vợ chịu thương chịu khó, cảm thông chia sẻ với ông. Bà tuy cằn nhằn ông có tuổi rồi không chịu nghỉ ngơi, bao năm “ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng” nhưng chính bà đã giúp ông quản lý “Cầu thang văn hóa”. Bà cũng là người đến từng hộ gia đình để vận động ủng hộ tiền quỹ mua sách, báo và lên nhà văn hóa phường xin các loại sách đặt trong tủ “Cầu thang văn hóa” phục vụ bà con.
Từ những thành công mà mô hình “Cầu thang văn hóa” Khu tập thể A3 có được, hiện nay, phường Nghĩa Tân đã nhân rộng thêm hơn 20 “Cầu thang văn hóa”, góp phần tạo nếp sống văn minh trong các khu tập thể trên địa bàn. Với việc xây dựng và duy trì hiệu quả mô hình “Cầu thang văn hóa”, tổ dân phố của ông đã được Ban Chấp hành Đảng bộ TP Hà Nội tặng bằng khen, cá nhân ông cũng vinh dự được tặng danh hiệu “Người tốt, việc tốt” cấp thành phố.





