Người Lính Của Tháng Tám 1971
ÔNG NGUYỄN HỒNG QUANG – “Người Lính Ở Phòng Tuyến Cuối Cùng, từ Tuyến Lửa Xuân Lộc Đến Ngày Thống Nhất”

Tôi là Nguyễn Hồng Quang. Hồi ấy còn trẻ, mới ngoài đôi mươi, nghe tiếng gọi của Tổ quốc là xếp ba lô lên đường. Tôi đi bộ đội ngày 22 tháng 8 năm 1971 những năm bom rơi lửa đạn còn dày đặc trên dải đất này. Huấn luyện ở Bắc Thái rồi Hà Bắc, sau đó hành quân vào Tây Nguyên – nơi mà suốt bao năm chúng tôi quen với đánh rừng, đánh núi, mai phục giữa những cánh rừng già âm u. Chưa bao giờ tôi nghĩ có ngày mình sẽ đánh trong lòng một thị xã, giữa những con đường hẹp, nhà tầng san sát và những mái ngói có thể trở thành điểm bắn tỉa bất cứ lúc nào.
Nhưng ngày ấy rồi cũng đến.
Ấy là khi chúng tôi bước vào trận Xuân Lộc – trận đánh mà đến giờ, chỉ mới nghĩ lại thôi, tim tôi vẫn nghẹn và sống lưng vẫn lạnh. Người ta bảo Xuân Lộc là “lá chắn thép” của Sài Gòn. Mất nơi ấy là mất Sài Gòn. Không bên nào chịu lùi, và vì thế cuộc chiến ở đó thành một lò lửa ngùn ngụt suốt bảy ngày bảy đêm.
Những ngày ấy, cả thị xã như bị xé nát.
Gạch đá không còn một viên nguyên vẹn. Cây mít lớn đến mấy cũng bị bom hất bật cả gốc. Địch công sự trong nhà này bắn sang nhà kia, từ tầng trên bắn xuống. Mình bắn lên, bắn sang, bắn theo những vệt lửa lóe lên chứ đôi khi cũng chẳng biết rõ phía ấy là địch hay chỉ bóng người ngả vào tường. Trong rừng thì còn nhận biết hướng, chứ đánh trong thị xã là hỗn loạn, rối rắm nhất trên đời. Không ít lúc nếu không quen trận mạc thì bắn nhầm cả đồng đội.
Tiếng nổ không bao giờ dứt. Pháo, bom, cối, lựu đạn... địch dồn hết vào Xuân Lộc. Mặt đất rung lên từng đợt, khói bụi um trời. Người ta nghe tiếng nổ thì chạy xa, còn lính như chúng tôi thì phải lao về phía tiếng nổ ấy. Có những luồng đạn đi “xoẹt” qua tai – nghe tiếng xoẹt ấy là biết nó đến thẳng người mình rồi, không kịp tránh. Lúc ấy tôi đã nghĩ: “Chắc mình không sống nổi mà vào đến Sài Gòn.”
Có đêm nằm sau bức tường gạch vỡ, nghe tiếng đạn réo trên đầu, tôi đã muốn bắn vào tay mình chỉ để được về sau này. Nhưng rồi nghĩ: bao nhiêu đồng chí còn đánh được, mình chẳng lẽ hèn đến thế? Và thế là lại gồng mình lên, lại xông vào. Có người đang đưa bát cơm lên chưa kịp ăn, tiếng nổ hất tung tất cả – một khoảnh khắc giữa sống và chết chỉ như cái chớp mắt. Ở chiến trường, đói, khát, mệt không đáng sợ bằng cảm giác cái chết quanh quẩn bên vai từng giờ, từng phút.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Đến ngày thứ bảy, phòng tuyến Xuân Lộc vỡ. Địch rút chạy tán loạn, còn chúng tôi chỉ biết lao theo. Sau những ngày tử chiến đến kiệt sức, tôi nhìn lại mình vẫn còn sống mà ngỡ như phép lạ. Và từ đó trở vào, các trận đánh không còn ác liệt bằng nữa, dù hiểm nguy thì vẫn rình rập trong từng con phố.
Khi tiến vào Sài Gòn, ở ngã tư Bảy Hiền, địch bất ngờ bắn cháy bốn xe tăng của ta. Chúng tôi lại đánh thêm một trận nữa. Đạn nổ hai bên đường, rồi đột nhiên địch tan rã, bỏ chạy. Khi tiếng súng tắt, người dân từ trong nhà ùa ra, khoác áo thường dân, cầm cờ, cầm hoa chạy ra vẫy bộ đội. Mọi thứ diễn ra nhanh đến choáng ngợp.

Rồi tin đến: bắt được Dương Văn Minh. Dương Văn Mình đầu hàng vô điều kiện rồi
Khoảnh khắc ấy, trời đất như vỡ òa.
Tôi không tưởng tượng được chiến thắng lại đến nhanh như vậy. Mới trước đó mấy tháng, miền Nam còn bốn, năm tỉnh chưa giải phóng xong; chúng tôi còn tự hỏi liệu mình có sống mà chờ đến ngày ấy. Thế mà chỉ một cơn “vũ bão” – Tây Nguyên rồi Sài Gòn – tất cả tan rã trước mắt. Chúng tôi chỉ biết ôm nhau, bật khóc. Lúc ấy, hạnh phúc giống như một giấc mơ thật-thật, hư-hư.
Tôi đứng ở trung tâm thành phố, giữa dòng người reo hò, mà hai chân vẫn run. Không phải sợ, mà là xúc động. Bao nhiêu năm chiến đấu, bao nhiêu đồng đội ngã xuống, để rồi cuối cùng được thấy ngày non sông thu về một mối. Trong khoảnh khắc ấy, tôi thấy sự vinh dự, tự hào, và sung sướng tột cùng của một người lính đã đi qua lửa đạn, đã cận kề cái chết bao lần, để rồi còn được sống mà chứng kiến ngày chiến thắng – ngay giữa thành phố mang tên Người.
Năm 1977, tôi phục viên, trở về quê hương với thương tích trên người và những nỗi đau không bao giờ mờ trong ký ức. Và đến bây giờ, mỗi khi kể lại, tôi vẫn nhớ rõ: Xuân Lộc – bảy ngày bảy đêm – là trận đánh tôi không bao giờ quên. Là nơi tôi đã tưởng mình chết, nhưng cũng là nơi tôi hiểu thế nào là ý nghĩa của một chiến thắng nó nhắc tôi rằng đố là hòa bình cả dân tộc mong chờ suốt mấy chục năm trời.



