NGƯỜI LÍNH ĐẶC CÔNG 480
NGƯỜI LÍNH ĐẶC CÔNG 480
Gác lại bình yên, lên đường theo tiếng gọi non sông
Bác Hoàng Hữu Đáng sinh năm 1946 tại tỉnh Bắc Giang (nay là Bắc Ninh). Sau sự kiện Mỹ ném bom Vịnh Bắc Bộ ngày 05/08/1964, nghe theo lời kêu gọi của Bác Hồ, người thanh niên ấy đã sẵn sàng tâm thế lên đường chiến đấu dù khi đó địa phương đang có ý định giữ bác lại để đào tạo làm cán bộ cho địa phương. Trước khi nhập ngũ, ngày 03/02/1966, bác chính thức đứng vào hàng ngũ của Đảng, khi ấy bác chuẩn bị bước sáng tuổi 20. Đến ngày 28/09/1966, với quyết tâm của bản thân cùng với sự ủng hộ, nhất trí từ phía gia đình và địa phương, bác chính thức lên đường tham gia bộ đội. Ban đầu, bác thuộc Lữ đoàn dù 305. Sau khi huấn luyện được ba tháng, đơn vị cử bác đi học y tá tại Hà Đông. Vừa xong khóa học Quân Y thì Lữ đoàn dù 305 của bác nhận lệnh giải thể. Bác chuyển sang Sư đoàn đặc công 305 của Bộ. Sau một thời gian huấn luyện tại huyện Chương Mỹ, Hà Tây ( Hà Nội bây giờ ) Bộ có lệnh điều đại đội S-1 của bác tiến vào Khánh Hòa.
Sáu tháng đường rừng, lửa đạn Đồng Bò và chiến công Lam Sơn.
Để vào đến đất Khánh Hòa, bác và đồng đội đã phải đi bộ ròng rã suốt 6 tháng trời, bắt đầu từ mảnh đất Quảng Bình đầy nắng gió. Hành trang trên vai người lính lúc bấy giờ chỉ có một chiếc ba lô, một khẩu súng và một túi thuốc. Đại đội của bác được các cô gái giao liên dẫn đường băng qua những dãy Trường Sơn trùng điệp, trên đầu là máy bay địch lùng sục khắp nơi. Vừa đặt chân đến căn cứ Đồng Bò vào đầu tháng 10, khi còn chưa kịp quen địa hình, bác đã phải đương đầu với những trận đánh ác liệt khi quân Nam Triều Tiên (Hàn Quốc) mở chiến cảng nhằm càn quét, tiêu diệt cơ quan đầu não của tỉnh Khánh Hòa. Tại Đồng Bò, bác hoạt động ở Đại đội 88. Trong những ngày tháng ấy, bác vừa là người lính cầm súng chiến đấu, vừa là người quân y với giỏ thuốc bên mình, ẩn nấp trong những tầng đá hiểm trở của Đồng Bò để bảo toàn lực lượng dưới làn mưa bom bão đạn.
Bác hoạt động ở Đồng Bò được 2 năm: 1968 đến hết năm 1969. Sang đầu năm 1970, Tỉnh đội Khánh Hòa ra quyết định thành lập Tiểu đoàn đặc công 480. Khi ấy, cấp trên quyết định không cho bác làm Quân Y nữa, bác tiếp tục tham gia chiến đấu với vai trò Chính trị viên Đại đội 90, Tiểu đoàn đặc công 480 ( thuộc Tỉnh đội Khánh Hòa ). Sau khi thành lập tiểu đoàn xong bác tham gia đánh trận đầu tiên tại Lam Sơn vào năm 1971. Trong trận tại Lam Sơn, nhờ sự tấn công kết hợp giữa bộ binh của Đại đội 90 và pháo binh đơn vị hỏa lực mà quân ta đã tiêu diệt và làm bị thương hơn 1000 quân địch tại Lam Sơn. Sau khi tiêu diệt hoàn toàn quân địch tại đây, lực lượng ta tiếp tục sử dụng hỏa lực bắn sang Bình Bắc để đánh phá và tiêu diệt các mục tiêu còn lại. Trận đánh tại Lam Sơn vào năm 1971 được coi là một thắng lợi lớn, là một trong những chiến công quan trọng của Tiểu đoàn đặc công 480 (thuộc Tỉnh đội Khánh Hòa) mà bác Đáng đã trực tiếp tham gia với vai trò Chính trị viên.
Giữa lằn ranh sinh tử và tình đồng chí thiết cốt
Trong suốt những năm tháng chiến đấu, ký ức về những người đồng đội luôn là vết khắc sâu đậm nhất trong lòng bác. Bác không bao giờ quên anh Lai, người đồng đội quê Phú Thọ đã tìm thấy và cứu bác khi bác bị thương, nằm nhịn đói suốt 6 ngày chỉ uống nước suối trong hang đá khi tham gia chiến đấu ở Đồng Bò. Sau khi Nam Triều Tiên rút quân khỏi Đồng Bò, Đại đội 88 đã chia nhau ra tìm tung tích của những đồng đội còn sống. Khi đó, chính bác Lai đã tìm thấy bác Đáng và nhường cho bác những hộp đồ hộp nhặt được, rồi cùng anh em khiêng bác về căn cứ an toàn.
Hay như anh Cộng, người đã kiên trì giặt quần áo, lấy cơm và chăm sóc bác suốt một tháng trời khi bác bị chấn thương chân không thể đi lại được. Thời gian đó, bác đang học y tá ở Hà Đông, anh Cộng không chỉ là đồng đội mà còn như một người anh lớn trong gia đình.
Đau xót nhất là người bạn thân thiết Tống Quốc Phú quê Thái Bình, người đã hẹn ước ngày đất nước thống nhất sẽ cùng nhau về thăm quê Thái Bình. Nhưng chưa kịp đợi đến ngày hòa bình, bác Phú đã anh dũng hy sinh ngay bên kia cầu Hà Dừa trong một trận tập kích bị lộ. Đó là trận đánh vào Thành Diên Khánh nhằm tập kích và tiêu diệt quân địch.
Những người anh em ấy, người còn người mất, nhưng tình cảm "chia ngọt sẻ bùi" vẫn luôn vẹn nguyên trong tâm trí người lính già.
Dân trong lòng lính, lính trong lòng dân
Chiến tranh không chỉ có tiếng súng mà còn ấm áp tình quân dân. Bác Đáng vẫn nhớ như in những ngày hoạt động tại Diên An để bảo vệ đội công tác và xây dựng cơ sở. Khi đó, nhân dân Diên An đã góp gạo và cùng nhau nấu cơm cho cả đại đội của bác. Dù trong hoàn cảnh phải cảnh giác cao độ, chỉ dám thay phiên nhau ăn, một nửa đại đội vào ăn cơm thì nửa kia sẽ canh gác xung quanh nhưng bát cơm của dân vẫn đong đầy nghĩa tình.
Khúc khải hoàn đẫm lệ và lời nhắn thầm trong tim
Vào thời khắc lịch sử khi tin chiến thắng vang dội khắp các mặt trận, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, bác Đáng và các đồng đội đã sống trong một bầu không khí vui mừng khôn xiết, không lời nào có thể tả hết được. Sau bao nhiêu năm tháng băng rừng lội suối từ miền Bắc vào miền Nam, trải qua biết bao trận đánh ác liệt tại Đồng Bò, Lam Sơn, Diên An, ... cuối cùng ngày hòa bình cũng đã đến. Giữa tiếng reo hò chiến thắng của quân và dân, bác thấy lòng mình trào dâng một cảm giác phấn khởi lạ thường, một niềm hạnh phúc mà bác gọi là "vui hết ngõ nói".
Giữa những âm thanh náo nhiệt của ngày giải phóng, trong thâm tâm người chiến sĩ ấy chỉ vang lên một ý nghĩ mãnh liệt và giản đơn nhất: "Mẹ ơi, con còn sống!". Khi nhắc tới câu nói đó, tưởng chừng như khung cảnh năm xưa đang hiện lại một lần nữa. Không kiềm được nỗi xúc động, đôi mắt bác rưng rưng. Đó là lời tự nhủ thầm lặng nhưng chứa đựng biết bao nỗi niềm của một người con xa quê từ tuổi đôi mươi, nay đã đi qua làn mưa bom bão đạn để chờ đợi ngày đoàn viên. Ngay lập tức, bác đã tìm cách báo tin về cho gia đình, cho người mẹ già ở quê hương Bắc Ninh để bà biết rằng đứa con trai của mẹ đã vẹn nguyên trở về sau cuộc chiến khốc liệt.
Thế nhưng, niềm vui ấy lại chẳng thể trọn vẹn khi ký ức về những người đồng đội cũ ùa về. Bác Đáng lặng lẽ rơi nước mắt vì thương nhớ những anh em đã ngã xuống. Bác nhớ về Tống Quốc Phú – người bạn thân thiết quê Thái Bình đã hy sinh ngay bên kia cầu Hà Dừa khi chưa kịp thực hiện lời hứa cùng nhau về thăm quê. Bác nhớ về anh Lai, anh Cộng và biết bao đồng chí khác đã từng chia ngọt sẻ bùi, chăm sóc nhau trong hang đá hay những lúc bị thương. Những giọt nước mắt lăn dài trên gương mặt người lính già là sự tri ân sâu sắc nhất dành cho những người đã hiến dâng tuổi thanh xuân để đổi lấy màu xanh hòa bình cho đất nước.
Vẹn tròn một đời cống hiến cùng với kỷ vật thời gian .
Sau bao nhiêu năm tham gia chiến đấu, kỷ vật duy nhất đi theo bác từ miền Bắc vào Nam, xuyên suốt từ năm 1968 đến nay, chỉ còn lại một chiếc bi đông. Chiếc bình ấy, cùng với những vết thương sau hai lần bị thương tại Đồng Bò và Diên An, là minh chứng cho một thời hoa lửa.
Trở về với đời thường, những tấm Huân chương Kháng chiến, Huân chương Chiến sĩ giải phóng và đặc biệt là huy hiệu 60 năm tuổi Đảng là những phần thưởng cao quý nhất ghi nhận sự cống hiến không mệt mỏi của bác cho độc lập dân tộc. Nhưng có lẽ, phần thưởng lớn nhất đối với bác chính là sự sống và sự tự do của dân tộc. Nhìn lại hành trình từ người thanh niên tình nguyện nhập ngũ đến khi trở thành Chính trị viên Đại đội, bác Đáng luôn tự hào vì đã giữ trọn lời thề dưới bóng cờ Đảng, xứng danh là người lính Bộ đội Cụ Hồ trong lòng nhân dân.
Lời gửi gắm, tiếp bước ông, cha.
Khép lại những trang hồi ức đầy máu và hoa, khi nhìn về phía chúng tôi thế hệ trẻ của đất nước, ánh mắt bác Đáng lấp lánh một niềm tin tưởng và kỳ vọng sâu sắc. Bác nhắn nhủ rằng: “Điều cốt lõi đầu tiên là các cháu phải làm sao giữ vững được cái truyền thống vẻ vang của ông cha mình từ thời chiến cho đến tận ngày hôm nay. Tuy nhiên, bác cũng khẳng định rằng trong thời đại mới, nếu tuổi trẻ không có sự đổi mới và tư duy mạnh mẽ thì không bao giờ có thể theo kịp được các quốc gia khác trên thế giới.
Với bác, sự hy sinh của thế hệ đi trước là để tạo nền móng cho một Việt Nam hùng cường. Bác mong mỏi thế hệ thanh niên hiện nay hãy quyết tâm thực hiện các mục tiêu phát triển của đất nước, không ngừng nỗ lực để dân tộc mình có thể sánh vai với các cường quốc năm châu như tâm nguyện của Bác Hồ. Để hiện thực hóa khát vọng lớn lao đó, người lính già ân cần nhắc nhở các cháu khi còn trẻ, hãy chú trọng việc tu dưỡng và rèn luyện sức khỏe thật tốt, bởi đó chính là nền tảng để học tập, cống hiến và viết tiếp những trang sử tự hào của dân tộc.
Câu chuyện của bác Đáng không chỉ là lời kể về quá khứ, là ký ức cá nhân mà là một phần lịch sử hào hùng của mảnh đất Khánh Hòa trung dũng, kiên cường. Hơn thế nữa, câu chuyện của Bác còn là nhịp cầu nối liền tinh thần yêu nước từ quá khứ đến hiện tại, truyền lửa cho thế hệ mai sau tiếp bước dựng xây quê hương.



