Bài viết

Người lính đặc công chỉ nặng 41 kg nhưng phá hơn 20 xe bọc thép

Ông Lê Huy Xuân quê thôn Bà Khê, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh. Năm 1963, khi mới ngoài đôi mươi, ông viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Lần đầu khám tuyển, ông bị loại vì chỉ nặng 41 kg, thể hình quá nhỏ. Không bỏ cuộc, năm 1964 ông tiếp tục đăng ký. Lần này, chính vóc dáng nhỏ bé lại được đánh giá là phù hợp với nhiệm vụ đặc công luồn sâu, hoạt động bí mật. Tháng 10.1964, sau ba tháng huấn luyện, ông hành quân vào chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng. Đơn vị của ông hoạt động ở Điện Bàn, Duy Xuyên, Đại Lộc, những khu vực được xem là “vùng đất chết” vì bom đạn. Là lính đặc công nước và công binh, nhiệm vụ của ông là phá cầu, phá đường, cắt tuyến giao thông của đối phương. Ban đêm, ông cùng đồng đội phải ngâm mình dưới nước nhiều giờ, bí mật tiếp cận chân cầu để đặt mìn. Trận đầu tiên ngày 25.2.1965, mục tiêu là cầu Cao Lâu trên Quốc lộ 1. Sau đó là cầu Bình Long, cầu Thượng Đức và nhiều mục tiêu khác. Đặc biệt, ông cùng đồng đội luồn sâu phá các xe bọc thép. Tổng cộng ông tham gia phá hủy hơn 20 xe bọc thép và tiêu diệt gần 300 lính đối phương; riêng một trận phá hơn 10 xe, tiêu diệt 152 lính. Nhưng phía sau những chiến công ấy là mất mát rất lớn: đại đội hơn 100 người khi vào Nam, đến ngày đất nước thống nhất chỉ còn hơn 20 người trở về. Trong một trận càn, ông cõng đồng đội bị thương rút lui rồi vấp phải mìn, mất một phần chân trái. Sau đó ông phải trải qua ba lần cưa chân do xương tiếp tục phát triển. Cuối năm 1969, trên đường ra Bắc điều trị, đoàn xe thương binh lại bị máy bay đánh bom ở Hang Đá, Quảng Bình; khoảng 40 thương binh trên xe hy sinh, ông là một trong số ít người sống sót. Ông trở về quê năm 1971, tiếp tục làm công tác địa phương, làm ruộng và nghề mộc. Điều ông muốn nhắn nhủ thế hệ sau không phải là những chiến công của mình mà là đừng quên cái giá của độc lập, tự do.

Bắc Ninh13/08/2026Xã Sơn Tây (Đoàn xã Sơn Tây)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ông Lê Huy Xuân quê thôn Bà Khê, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh. Năm 1963, khi mới ngoài đôi mươi, ông viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Lần đầu khám tuyển, ông bị loại vì chỉ nặng 41 kg, thể hình quá nhỏ. Không bỏ cuộc, năm 1964 ông tiếp tục đăng ký. Lần này, chính vóc dáng nhỏ bé lại được đánh giá là phù hợp với nhiệm vụ đặc công luồn sâu, hoạt động bí mật.

Tháng 10.1964, sau ba tháng huấn luyện, ông hành quân vào chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng. Đơn vị của ông hoạt động ở Điện Bàn, Duy Xuyên, Đại Lộc, những khu vực được xem là “vùng đất chết” vì bom đạn.

Là lính đặc công nước và công binh, nhiệm vụ của ông là phá cầu, phá đường, cắt tuyến giao thông của đối phương. Ban đêm, ông cùng đồng đội phải ngâm mình dưới nước nhiều giờ, bí mật tiếp cận chân cầu để đặt mìn. Trận đầu tiên ngày 25.2.1965, mục tiêu là cầu Cao Lâu trên Quốc lộ 1. Sau đó là cầu Bình Long, cầu Thượng Đức và nhiều mục tiêu khác.

Đặc biệt, ông cùng đồng đội luồn sâu phá các xe bọc thép. Tổng cộng ông tham gia phá hủy hơn 20 xe bọc thép và tiêu diệt gần 300 lính đối phương; riêng một trận phá hơn 10 xe, tiêu diệt 152 lính. Nhưng phía sau những chiến công ấy là mất mát rất lớn: đại đội hơn 100 người khi vào Nam, đến ngày đất nước thống nhất chỉ còn hơn 20 người trở về.

Trong một trận càn, ông cõng đồng đội bị thương rút lui rồi vấp phải mìn, mất một phần chân trái. Sau đó ông phải trải qua ba lần cưa chân do xương tiếp tục phát triển. Cuối năm 1969, trên đường ra Bắc điều trị, đoàn xe thương binh lại bị máy bay đánh bom ở Hang Đá, Quảng Bình; khoảng 40 thương binh trên xe hy sinh, ông là một trong số ít người sống sót.

Ông trở về quê năm 1971, tiếp tục làm công tác địa phương, làm ruộng và nghề mộc. Điều ông muốn nhắn nhủ thế hệ sau không phải là những chiến công của mình mà là đừng quên cái giá của độc lập, tự do.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn