Người lính già
Cuộc tổng tiến công mùa xuân Mậu Thân năm 1968 làm rung chuyển cả miền Nam. Hàng ngày đội xích lô của ông Thu vẫn đi về như thường lệ nhưng ông linh cảm có cái gì đó khang khác. Họ hoạt động kín đáo quá. Ông Thu không hề biết những người đạp xích lô của ông cũng bí mật tham gia việc vận chuyển súng ngắn và thuốc nổ C4 vào nội thành trước Tết. Đúng đêm giao thừa, tiếng pháo của quân Giải phóng gầm vang. Cả thành phố Huế lửa đỏ rực trời. Nhà máy đèn trước cửa nhà ông Thu vụt tắt. Chỉ trong ba ngà

Cuộc tổng tiến công mùa xuân Mậu Thân năm 1968 làm rung chuyển cả miền Nam. Hàng ngày đội xích lô của ông Thu vẫn đi về như thường lệ nhưng ông linh cảm có cái gì đó khang khác. Họ hoạt động kín đáo quá. Ông Thu không hề biết những người đạp xích lô của ông cũng bí mật tham gia việc vận chuyển súng ngắn và thuốc nổ C4 vào nội thành trước Tết. Đúng đêm giao thừa, tiếng pháo của quân Giải phóng gầm vang. Cả thành phố Huế lửa đỏ rực trời. Nhà máy đèn trước cửa nhà ông Thu vụt tắt. Chỉ trong ba ngày Tết lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã tung bay khắp trong lòng thành phố. Lòng ông Thu hồi hộp rộn ràng nhưng chưa có cách nào để gặp được người đằng mình. Đến ngày mồng 5 Tết thì quân đội Mĩ và Việt Nam Cộng hòa mới kịp phản công. Chiều ngày mồng 4 Tết, Tiểu đoàn Dù của chúng mới được trực thăng chở từ Quảng Trị vào thành Mang Cá. Quân đội Mĩ quyết định dùng hỏa lực mạnh nhằm đánh bật quân Giải phóng miền Nam ra khỏi Huế. Ngoài xe tăng, pháo binh, chúng còn dùng cả máy bay B.52 ném bom rải thảm vào các công trình mà chúng cho là những pháo đài, chiến lũy của quân Giải phóng ẩn nấp. Điều tai hại nhất là bom Mĩ bỏ trượt mục tiêu quân sự. Hầu hết pháo và bom đánh trúng trường học và công trình dân sự. Hoàng thành đổ nát. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh bằng bất cứ một giá nào cũng lấy lại được thành phố Huế. Phía nam sông Hương bọn Thủy quân lục chiến Mĩ giằng co với quân Giải phóng nhiều ngày nhưng không làm sao tái chiếm được. Lá cờ của Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam vẫn ngạo nghễ tung bay trên các ngã đường. Tướng Westmoreland chỉ huy quân đội Mĩ ở miền Nam điên tiết ném vào đây một lực lượng Thủy quân lục chiến mạnh nhất để trợ lực cho binh lính Việt Nam Cộng hòa.
Sau 25 ngày tiến công làm chủ thành phố Huế, đến ngày 23/2/1968 quân Giải phóng quyết định rút lui. Trong đêm cuối cùng còn trụ lại trong thành phố có một chiến sĩ đã đến đưa cho ông Thu một lá thư và tấm ảnh của một người con gái. Đó là lá thư của người đại đội trưởng quân Giải phóng viết trước lúc rút lui. Trong thư anh viết từ lâu cách mạng đã biết ông Thu là người tốt, ông đã âm thầm giúp đỡ cách mạng miền Nam. Anh nhờ ông nuôi dạy đứa con nên người, hẹn ngày thống nhất nước nhà sẽ về xin gặp lại. Anh đã lần theo sự chỉ dẫn của người chỉ huy đến được nhà ông Thu. Vì nhà ông đối diện với cổng của nhà máy đèn nên tìm rất dễ.
Nhìn qua tấm ảnh ông Thu biết ngay là mẹ đứa trẻ, người đã đến nhà ông trong ngày lễ Phật đản năm xưa. Ông Thu dắt người chiến sĩ đến nhìn mặt thằng bé. Nó đang ngủ rất say. Qua ánh đèn pin suýt nữa người lính phải reo lên. Nó giống với người chỉ huy của mình như tạc. Anh cho ông Thu biết mẹ thằng bé đã hy sinh khi dẫn quân Giải phóng vượt qua cầu Tràng Tiền đánh vào nội đô. Anh ngắm nhìn thằng bé trong chốc lát rồi vội vã đuổi theo đơn vị rút lên rừng.
*
* *
Chúng tôi đang đứng chụp tấm ảnh với ông Thu thì Hồng đến. Anh lái một chiếc xe tắc xi. Anh không hề biết mình là con nuôi của ông Thu suốt sáu chục năm qua. Tôi thông báo cho Hồng biết người cha đẻ của Hồng là một cán bộ chỉ huy quân Giải phóng. Ông đã chết. Hồng nói với chúng tôi nhà anh bây giờ ở phía Bắc sông Hương. Tôi chợt nhớ ra đó là người đàn ông đã từng đạp xe xích lô chở tôi từ ga Huế về tòa soạn báo Dân (Bình Trị Thiên) trước ngày chia tỉnh. Tôi đi dực hội nghị cộng tác viên của báo Dân đầu xuân. Sau khi chiến tranh kết thúc tôi đã rời quân đội, chuyển sang ngành giáo dục và tham gia viết báo nghiệp dư. Hồi đó “tàu chợ” chạy tuyến từ Vinh vào đỗ ở ga Huế thường ban đêm. Có lúc đường hư hỏng, tàu trật ray, chết máy trễ mất cả một ngày trời. Bây giờ Hồng vẫn chở khách nhưng bằng tắc xi. Nghe tôi nhắc lại kỷ niệm xưa anh chợt nhớ ra và òa lên. Biết được mục đích của cuộc gặp, Hồng sửng sờ. Từ trước đến giờ anh không hề nghe cha mình nói về điều này. Chúng tôi sẽ đưa anh về tìm lại quê hương bản quán. Anh sẽ gặp lại những người thân yêu ruột thịt của mình mà anh chưa biết tên. Người cha ruột của Hồng không kịp quay về gặp gỡ đứa con. Ông đã hy sinh khi tiến vào cửa ngõ Sài Gòn trước ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.
*
* *
Mùa xuân năm 1975, cậu bé Hồng đã là một thiếu niên. Ngày 26/3 lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã tung bay trên đỉnh cột cờ Phu Văn Lâu. Hồng theo các chú bộ đội đi đến từng nhà dân. Cậu đã chỉ cho các chú bộ đội nhà của những tên sĩ quan ngụy chưa ra trình diện. Cuộc tiến quân thần tốc “một ngày bằng hai mươi năm” của quân Giải phóng với thế mạnh áp đảo như chẻ tre.
Cả nhà ông Thu hăng hái tham gia ủng hộ bộ đội trong những ngày đầu giải phóng. Nhà ông Thu là nơi ủy ban quân quản đóng để củng cố chính quyền, thiết lập trật tự cuộc sống của người dân. Bây giờ ông mới biết những người đạp xe xích lô của ông là đội quân ngầm của cách mạng. Ông nghe một chú bộ đội nói một số xe đang cần dầu diesel, ông liền cho đội đạp xe xích lô của ông đến các cơ sở trong thành phố để thu mua hoặc đổi xăng lấy dầu diesel cho bộ đội kịp thời tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh. Nhiều người dân Huế đã tình nguyện dùng xe nhà chở bộ đội vào Nam chiến đấu.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 rồi chiến tranh biên giới Tây Nam, đến biên giới phía Bắc vẫn không có ai đến tìm Hồng. Từ lâu ông Thu đã xem thằng bé là người con cả trong nhà. Ông không hề có sự phân biệt đối xử nên anh không hề biết là con nuôi hay con đẻ. Hồng đã cùng các đứa em thay mặt cha về làng xây lăng mộ cho ông bà, tổ tiên. Ông Thu không dám về làng vì ông mang tiếng là kẻ đi theo giặc. Hơn nữa ông đã quá già, với lại chân cẳng thế này làm sao mà đi được. Mấy năm trước có người nhà của ông Trần Vơn vào Huế xin ông xác nhận ông Vơn là liệt sĩ nhưng không ai tin ông cả. Trong làng ai cũng nói ông là kẻ đầu hàng, kẻ đã theo giặc ở phía bên kia. Người cán bộ phụ trách chính sách thương binh liệt sĩ ở xã nói làm sao mà tin được đối phương, kẻ đã từng đi theo giặc. Ông Thu không đủ tư cách xác nhận ông Vơn là liệt sĩ. Ông Thu thì khẳng định hôm đó bọn địch giết ông Vơn, chúng vứt xác ông nằm bên mép nước, đúng lúc con nước ròng. Có lẽ xác ông đã trôi ra biển cả, nhưng chắc chắn linh hồn ông vẫn còn quanh quẩn ở quê hương. Nhiều đêm nằm mơ, ông Thu vẫn thấy ông Vơn trở về trò chuyện với ông. Ông ấy nói thương cho người đã chết và ngay cả những người như ông khi đang còn sống.
*
* *
Ngày 30 tháng 4 năm 2024, tôi dẫn anh Hồng và những đồng đội cũ, các cựu chiến binh Tiểu đoàn 815 bộ binh, Trung đoàn 9 anh hùng về thăm quê hương của ông Thu. Lần đầu tiên ông Thu trở về thăm lại làng tôi sau hơn bảy chục năm xa cách. Ông ngồi trên chiếc xe con do anh Hồng, con trai ông lái. Ông muốn gặp lại đồng đội cũ, những cựu chiến binh ở chi đội Lê Trực ngày xưa nhưng không còn ai nữa. Cảnh vật ở đây đã đổi khác hoàn toàn. Không còn tiếng gõ reo của những chiếc thuyền chài trên sông. Dọc sông là các lồng nuôi cá chẻm, cá mú. Dòng sông Gianh lượn lờ uốn khúc không còn bóng cây xanh mọc ở ven bờ. Những rặng bần lúc lỉu quả đã vắng bóng. Hai bên bờ là dãy kè đá vững chắc giữ con đê bằng bê tông chạy dọc bờ sông, trong lũ lụt. Những mái nhà tranh lúp xúp dưới lũy tre làng đã được thay thế bằng những ngôi nhà mái ngói đỏ tươi. Nhiều dãy nhà cao tầng mọc lên san sát. Cả làng tôi vui như đón tết. Hội Cựu chiến binh của xã tổ chức lễ đón nhận hài cốt của ông Vơn được đưa về làng rất trang trọng. Lễ truy điệu, phủ quân kỳ cho ông Vơn được tổ chức tại hội trường trụ sở ủy ban nhân dân xã. Có cả cán bộ lãnh đạo của tỉnh, huyện về dự nữa. Hồn cốt của ông Vơn nằm trong ngôi mộ gió. Trong quan tài ông là một bộ cốt làm bằng cây dâu tằm với những nắm đất bốc lên từ mố cầu Bùng và bãi cỏ dọc sông Son nơi ông ngã xuống năm xưa.
Ông Thu được mời lên phát biểu. Ông nghẹn ngào không nói nên lời. Người dân làng tôi đã thay đổi cách nhìn đối với ông. Từ thái độ khinh bỉ, chê bai, họ đã chuyển sang kính phục và lòng biết ơn. Ông vẫn giữ vững phẩm chất của một người lính, của bộ đội Cụ Hồ. Họ nói ông là chứng nhân của lịch sử, viên ngọc sáng lấp lánh bị che khuất bởi lớp bụi của thời gian.



