Người lính già và ký ức 81 ngày đêm “mưa đỏ” giữ Thành cổ Quảng Trị
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị trong 81 ngày đêm, từ 28/6 đến 16/9/1972, là một bản tráng ca bi hùng khắc sâu vào lịch sử dân tộc. Trên không gian chiến trường chỉ hơn 3km², hàng nghìn người con ưu tú đã ngã xuống. Máu và xương của họ hòa vào bùn đất, theo dòng sông Thạch Hãn chảy mãi về sau, thành ký ức không bao giờ phai.
Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị trong 81 ngày đêm, từ 28/6 đến 16/9/1972, là một bản tráng ca bi hùng khắc sâu vào lịch sử dân tộc. Trên không gian chiến trường chỉ hơn 3km², hàng nghìn người con ưu tú đã ngã xuống. Máu và xương của họ hòa vào bùn đất, theo dòng sông Thạch Hãn chảy mãi về sau, thành ký ức không bao giờ phai.
Máu trộn với bùn Trong căn nhà nhỏ ở xã Vạn An (Nghệ An), Trung tá Nguyễn Cảnh Lương – Chủ tịch Hội Chiến sĩ Thành cổ Quảng Trị 1972 Nam Đàn – lặng lẽ kể lại những tháng ngày ở tuổi hai mươi. Khi ấy, anh là đảng viên trẻ, Bí thư Đoàn HTX Lam Sơn, mang theo hành trang giản dị: lòng yêu nước, mối căm thù giặc và kinh nghiệm giữ bầu trời quê hương với khẩu đội 12 ly 7 trên đỉnh núi Nguộc.
Sau ba tháng huấn luyện, một tháng hành quân bộ, ngày 20/6/1972, người lính trẻ trong đội hình Đại đội 2, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 27 (Triệu Hải) vượt sông vào Thành cổ. Ngày 28/6, cuộc chiến bắt đầu. Ngày nối ngày, đêm nối đêm, đơn vị “mòn” đi rất nhanh: người trước ngã xuống, người sau bổ sung, chưa kịp biết tên nhau đã lại vào chốt.
“Mùa hè năm ấy, Thành cổ có ba mùa mưa,” ông Lương nhớ lại. “Mưa bom bão đạn; mưa lũ lịch sử; và ‘mưa đỏ’ – mưa của máu, xương, thân thể đồng đội.” Nắng hè nung cháy da thịt, thuốc súng khét lẹt; rồi lũ tràn, nước bùn ngập hầm hào. Hậu cần không thể tiếp tế, đói rét bủa vây, bom đạn rải như mưa. Có những ngôi mộ vừa chôn xong, bom lại cày lên.
Trong 81 ngày đêm, thị xã và Thành cổ hứng chịu 328.000 tấn bom đạn, tương đương sức công phá của 7 quả bom nguyên tử ném xuống Hiroshima năm 1945. Trung bình, mỗi chiến sĩ phải đối mặt khoảng 100 quả bom và 200 quả đạn pháo. Đêm nay một đại đội vượt sông tiếp viện, sáng hôm sau chỉ còn lại vài người.
Bò vào lòng địch, đưa đồng đội về Ngày 16/8/1972, mảnh pháo trúng đầu, Trung sĩ Nguyễn Cảnh Lương được đưa về trạm phẫu. Đầu tháng 9, vết thương chưa lành, anh nằng nặc xin quay lại. Nhiệm vụ đầu tiên: cùng bốn đồng đội bò vào khu chiếm đóng của địch, tìm và đưa ba liệt sĩ – trong đó có Đại đội phó Ngọc – trở về.
Trong đêm mưa trắng trời, năm người nhích từng chút qua hố bom đặc bùn. Khi phát hiện ba thi thể xếp ngay ngắn trên mô đất, linh cảm nguy hiểm buộc họ dừng lại. Quả lựu đạn US tháo chốt được ngụy trang trong vỏ lon sữa nằm chờ nổ. Vô hiệu hóa xong quả thứ nhất, anh phát hiện quả thứ hai đặt dưới chân thi thể giữa và tiếp tục xử lý. Trong tay người lính đầu tiên là chiếc la bàn – dấu hiệu của một cán bộ. “Có lẽ là anh Ngọc,” ông Lương nói khẽ. Không đủ lực vận chuyển, họ chia người về xin chi viện; số còn lại vừa kéo vừa đẩy, men theo giao thông hào ngập nước đưa đồng đội về. Hai kíp nổ được bàn giao cho đơn vị; chiếc la bàn, ông giữ đến hôm nay như một kỷ vật thiêng.
Trụ vững để thắng trên bàn đàm phán Ngày 16/9/1972, lực lượng ta rút khỏi Thành cổ. Riêng đơn vị ông Lương có 299 người hy sinh; toàn mặt trận, hơn 4.000 chiến sĩ nằm lại. Trung đoàn 27 tiếp tục nhiệm vụ đến tháng 10/1973; sau đó, ông học tập, công tác trong quân ngũ cho đến ngày nghỉ hưu với quân hàm Trung tá.
Theo Thượng tá Nguyễn Xuân Cận – Chủ tịch Hội Chiến sĩ Thành cổ Quảng Trị 1972 tỉnh Nghệ An – đối phương tập trung tối đa lực lượng nhằm chiếm lại Thành cổ “bằng mọi giá”. Với ta, trụ vững càng lâu càng tốt là yêu cầu chiến lược. Sự phối hợp chặt chẽ giữa ba thứ quân, giữa phòng ngự và tiến công, đã bẻ gãy hàng trăm cuộc phản kích, tạo thế trận liên hoàn.
Chiến công ấy góp phần buộc Mỹ ký Hiệp định Paris, hoàn thành mục tiêu “đánh cho Mỹ cút”, mở thời cơ “đánh cho ngụy nhào”, tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Lời gửi lại Chiến tranh lùi xa, nhưng nỗi canh cánh còn nguyên. Ông Lương nhiều lần trở lại Quảng Trị, thắp hương cho những đồng đội chưa kịp biết tên nhau. “Để giành được độc lập, tự do gian khổ lắm,” ông nói, giọng chùng xuống. Đó không chỉ là ký ức của một người lính già, mà là lời nhắc nhở lặng thầm về cái giá của hòa bình – cái giá đã được trả bằng 81 ngày đêm mưa đỏ ở Thành cổ Quảng Trị.



