Người lính già và ký ức Tháng Tư
Người lính già và ký ức Tháng Tư
Ở tuổi 73, trong ký ức của Thiếu tướng Trần Ngọc Thổ- nguyên Tham
mưu trưởng Quân khu 7 vẫn tươi rói những hình ảnh của những ngày
tháng Tư lịch sử. Ông là một trong những người trực tiếp tham gia
những trận đánh cuối cùng làm nên chiến thắng lịch sử 30/4/1975.
Ruột thịt với miền Nam
Nhập ngũ ngày 30/9/1966, sau khi được huấn luyện vào cánh đồng Chum (Hạ Lào), trở thành lính
của Sư đoàn 320, rồi sau đó ông được điều động về Sư đoàn 308, vốn là Đại đoàn quân tiên phong
oai hùng của quân đội ta. Với ông, tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh là kỷ niệm sâu sắc nhất, thiêng
liêng nhất trong cuộc đời binh nghiệp.
Tướng Thổ hồi tưởng, ngày ấy, lực lượng tổng tiến công của ta gồm 5 cánh quân đánh chiếm các cơ
quan đầu não chính quyền Sài Gòn. Khi đó, ông là Tham mưu phó, Trưởng ban Tác chiến cánh quân
thứ 5 với nhiệm vụ đánh vu hồi từ Gò Công, hợp cùng các cánh quân khác giải phóng Sài Gòn. Tướng
Thổ nhớ, ngày 30/3/1975, ông đang tập huấn tại Bộ Tham mưu Quân khu 8 thì được Trung đoàn 88
gọi về chuẩn bị chiến đấu.
Theo kế hoạch, lực lượng phải hành quân từ huyện Chợ Gạo, Châu Thành (Tiền Giang) vượt sông
Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây ở huyện Tân Trụ, Cần Giuộc (Long An) đến Bình Chánh, vào cầu Chữ Y và
đánh chiếm Tổng nha Cảnh sát cùng Khu vực kho xăng Nhà Bè - Sài Gòn. Ông và đồng đội phải tiêu
diệt mục tiêu thần tốc và hạn chế đến mức thấp nhất thương vong. Quân ta lần lượt hạ từng đồn bót,
kịp tiến về Sài Gòn.
Ban
Tham mưu Trung đoàn 88 chụp ảnh lưu niệm ngày 28/4/1975 tại Cần Giuộc, Long An (Thiếu tướng Thổ
đứng hàng trên, thứ hai từ phải sang)
Đến 3 giờ sáng ngày 29/4, Tiểu đoàn 3 của ông báo cáo toàn bộ địch ở đồn cầu Ông Thìn đã tháo
chạy. Sáng ngày 30/4/1975, Trung đoàn 88 làm chủ toàn bộ đoạn đường từ cầu Ông Thìn đến Nam
huyện Bình Chánh, chuẩn bị đánh vào khu vực cầu Chữ Y. 11 giờ 30 phút cùng ngày, Đài Phát thanh
Sài Gòn đưa tin Tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện, ông và đồng đội trào nước mắt,
vỡ òa trong hạnh phúc. Lần lượt, từng khoảnh khắc qua từng trận đánh, từng con người, từng địa
điểm lần lượt như tuôn ra qua hồi ức của mình.
Tướng Thổ kể, 8 giờ sáng ngày 20/4/1975, ông đưa Tiểu đoàn 1 vượt sông Vàm Cỏ Tây (đoạn Thanh
Phú Long sang Nhựt Ninh) để kịp đánh vào Chi khu Tân Trụ - vị trí quan trọng phía Nam Sài Gòn.
Nhận được lệnh, ông không khỏi lo ngại vì khúc sông này rộng, lại có đến 13 tàu chiến của địch cách
nơi bộ đội vượt sông chỉ 2km. Do đó, các chiến sĩ phải có sự trợ giúp từ địa phương. Chỉ trong 30
phút, cán bộ địa phương huy động được đến 20 ghe máy loại lớn (mỗi chiếc chở được 40 người với
đầy đủ trang bị) cùng gần 400 người, trong đó có cả thiếu nhi làm công tác binh vận vô hiệu hóa
thuyền chiến của địch. Nhờ vậy, Tiểu đoàn 1 cùng các đại đội trực thuộc (khoảng 600 người) vượt
sông thuận lợi.
Lại nhớ, ngày 28/4, trên đường về Sài Gòn, Sở chỉ huy Trung đoàn ở nhờ nhà một má ở Cần Giuộc. Bà
má âu yếm nhìn những người lính giải phóng như nhìn mấy đứa con ở xa mới về. “Nhà có mấy con
ngỗng, má định làm thịt cho chúng tôi bồi dưỡng, nhưng mấy chị cản, cho là ăn ngỗng… xui nên cả
đàn gà hơn 30 con, má dành hết cho anh em lấy thêm sức chiến đấu”, ông hồi tưởng.
“Tám” Thổ của má!
Kể về những bà má ở khu 8 nuôi bộ đội những năm kháng chiến, ông Thổ nghẹn ngào như đang kể
về mẹ ruột của mình. Ông thao thao bất tuyệt về má Bảy hay tiếp tế cho bộ đội ở Củ Chi, TPHCM.
Cuối năm 1968, má bị buộc chuyển vào sống trong vùng địch. Dù má cũng không đủ ăn nhưng trước
khi đi, má chôn một lu lương thực gồm mì gói, đường và cá muối cho bộ đội. Người mà ông nhớ nhất
là má Tư Bún ở Tiền Giang, người nhận ông làm con nuôi và đặt cho ông “thứ Tám”, cái danh xưng
thân thương đặc trưng Nam bộ. Bởi, con của má là liệt sĩ Tám Phước đã hy sinh. Thế nên, ông còn
được gọi là anh “Tám Thổ”.
“Cuối tháng 4/1975, khi tiểu đoàn được lệnh về Sài Gòn gấp tham gia chiến dịch, nhà nghèo lắm mà
má bán 40 giạ lúa, gửi chúng tôi lên đường. Má còn dặn lỡ đứa nào bị thương thì về ở với má”, ông
nghẹn ngào. Rồi ông nhớ mấy ngày hành quân từ Gò Công về Sài Gòn, đi đến đâu cũng vậy, hai bên
đường, dân để sẵn nước, thậm chí chặt dừa cho bộ đội uống; có người còn lấy xe đạp, xe máy chở
những người đuối sức. Họ dù không quen mà như ruột thịt. Bởi vì, họ cùng chung ước vọng đất nước
hòa bình, gửi trao niềm tin cho đoàn quân giải phóng. Đó là động lực để các anh giữ trọn niềm tin
quyết thắng.
Thiếu tướng Trần Ngọc Thổ, sinh ra trên đất Bắc nhưng gắn cuộc đời binh nghiệp với đất phương
Nam, từng vào sinh ra tử, oai hùng ngoài chiến trận, vậy mà mỗi lần nhắc đến những bà mẹ quê Nam
bộ lại xúc động rưng rưng. 44 năm trôi qua, đồng đội của ông có người còn, người mất, có người
chưa tìm được hài cốt. Tài sản quý nhất của vị tướng tuổi xế chiều không phải là những huân, huy
chương mà chính là ký ức về tình đồng đội, tấm lòng của những người má, người chị đã cưu mang
ông trong những năm dài chinh chiến. Đây là sức mạnh vô hình, góp phần làm nên chiến công 30/4
lịch sử. Giờ đây, Thiếu tướng Trần Ngọc Thổ vẫn muốn tri ân cuộc đời khi còn minh mẫn, đủ sức
khỏe. Với cương vị Phó Chủ tịch Trung ương Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam, Chủ
tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin TPHCM, ông vẫn miệt mài đấu tranh giành công bằng cho
những người nhiễm chất độc do quân đội Mỹ gieo rắc. Ông cũng ấp ủ kế hoạch thành lập Hội Nạn
nhân bom, mìn, những người chịu hậu quả của cuộc chiến năm xưa.
Ký ức còn mãi
Ông cũng nhớ như in cả những câu chuyện lúc đơn vị mình đặt chân tới cửa ngõ Sài Gòn. Những
ngày cuối tháng 4/1975 đơn vị của ông được lệnh tiến về Sài Gòn, lúc này các cánh quân ta đánh
“tốc chiến, tốc thắng” nên các mục tiêu được xác định và bao vây rất nhanh chóng, trong đó có nơi bị
tan rã, có nơi chống trả quyết liệt. Nhưng cũng có nơi ở trong thế dùng dằng như một cứ điểm tại
Cần Giuộc (Long An). “Khi đó chúng tôi tiến hành bao vây nơi này nhưng cả hai bên đều chưa nổ
súng. Nghĩ rằng trận chiến sẽ rất cam go nên tôi cho anh em nấu cơm, chuẩn bị. Nhưng khi vừa
nhóm lửa thì có tiếng loa ở trong cứ điểm vọng ra nói, chúng tôi nấu cơm thì nên… tránh để khói bay
ra nhiều nếu không sẽ tự làm mục tiêu cho phi pháo. Sau này tôi mới biết là khi đó những người lính
bên trong họ cũng không muốn chiến đấu, bởi rất muốn buông súng đầu hàng, trở về với gia đình
càng nhanh càng tốt”, ông kể.
Bên cạnh những câu chuyện xúc động về tình người, tình đồng đội, đôi khi ông cũng bật cười khi gặp
phải những tình huống cho thấy hình ảnh của mình đã bị “bóp méo” đến… buồn cười. Hôm đó là ngày
30/4, ông cùng đơn vị tiến vào Sài Gòn, lúc này đa số binh lính đã đầu hàng, tuy nhiên để chắc chắn
đơn vị vẫn phải chia nhau để đi vào từng nhà kiểm tra. Lúc này, các nhà ở khu Nhà Bè gần như chỉ có
phụ nữ và trẻ em ở lại.
Tại một căn nhà, ông đã tìm được bốn cô gái đang run lẩy bẩy, trốn trong… gầm giường. Ông phải
trấn an một hồi thì những cô gái này mới dám bò ra và ngập ngừng nói rằng họ làm vậy là vì sợ khi
bắt được sẽ bị “rút móng tay”. Tuy nhiên, cảm giác sợ sệt liền tan biến ngay sau đó. Trước sự chân
thành của các “chú giải phóng” chính những cô gái này đã nấu cơm để đơn vị ông ăn và tiếp tục lên
đường. Cảm động nhất đối với ông lại là chuyện một số cụ già ở khu vực Nhà Bè, sau giây phút sợ
sệt đã tiến lại và kéo tay áo của ông lên rồi nói lớn: “Lính giải phóng tụi bay cũng trắng trẻo chứ có
lông lá gì đâu”, Tướng Thổ nheo mắt nhớ lại.
Nguồn: https://doanthanhnien.vn/tin-tuc/cong-tac-tuyen-truyen-giao-duc/cau-chuyen-mot-thoi-hoa-lua-
nguoi-linh-gia-va-ky-uc-thang-tu



