Người lính giữ cây đàn giữa Tây Nguyên đỏ lửa
Ngày vào Tây Nguyên, thứ duy nhất tôi mang theo ngoài quân trang là một cây mandolin cũ. Cây đàn ấy là quà cha tôi để lại trước lúc mất. Mẹ từng bảo: “Ra chiến trường mang đàn làm gì cho vướng.” Nhưng tôi vẫn mang theo. Không hiểu sao tôi luôn cảm thấy chỉ cần còn cây đàn bên cạnh thì mình vẫn còn giữ được một phần cuộc sống bình yên trước chiến tranh. Tây Nguyên những năm ấy khốc liệt vô cùng. Rừng già âm u, đất đỏ phủ kín quần áo. Ban ngày nắng cháy da, ban đêm sương lạnh ngấm tận xương. Đơn vị chúng tôi hành quân liên tục qua những cánh rừng bạt ngàn. Có hôm đi suốt mười mấy tiếng đồng hồ mới được nghỉ. Ai cũng mệt rã rời. Vậy mà cứ tối đến, anh em lại giục tôi: “Khải, đàn một bài đi.” Tôi lấy cây đàn từ trong bao vải ra. Nhiều chỗ gỗ đã trầy xước vì va đập trong lúc hành quân. Nhưng tiếng đàn vẫn vang lên rất ấm. Giữa rừng sâu, tiếng đàn nghe lạ lắm. Nó khiến người ta quên đi phần nào tiếng bom đạn. Có đêm tôi đàn bài về quê hương. Một cậu lính quê Nghệ An đang ngồi lau súng bỗng quay mặt đi rất nhanh. Tôi biết cậu đang khóc. Vì lúc ấy ai mà chẳng nhớ nhà. Nhớ mái tranh. Nhớ tiếng mẹ gọi. Nhớ con đường làng mùa gặt. Chiến tranh khiến những chàng trai vừa đôi mươi phải học cách giấu nỗi nhớ vào tận đáy lòng. Một lần đơn vị dừng chân bên suối sau trận đánh lớn. Ai cũng im lặng. Có người vừa mất đồng đội thân thiết. Không khí nặng nề đến nghẹt thở. Tối hôm ấy, tôi mang đàn ra ngồi một mình bên bờ nước. Rồi khẽ đàn một giai điệu rất chậm. Không ai bảo ai, từng người lặng lẽ bước tới ngồi quanh. Không nói chuyện. Không cười. Chỉ ngồi nghe tiếng đàn vọng giữa rừng đêm. Có lẽ lúc ấy, âm nhạc là thứ duy nhất giúp chúng tôi thấy lòng mình còn mềm lại giữa chiến tranh khốc liệt. Nhưng rồi chiến trường đâu để con người ta bình yên quá lâu. Một buổi chiều hành quân qua trọng điểm bom, đơn vị bị đánh bất ngờ. Đất đá tung mù trời. Mọi người lao xuống hầm tránh bom. Khi trận bom qua đi, tôi cuống cuồng tìm cây đàn. Nó bị sức ép hất văng xuống hố đất. Cần đàn gãy đôi. Tôi ngồi lặng rất lâu. Một đồng đội vỗ vai: “Còn sống là may rồi.” Tôi biết anh nói đúng. Nhưng nhìn cây đàn gãy, tôi thấy như một phần tuổi trẻ của mình vừa vỡ theo. Tối đó tôi vẫn ôm cây đàn ngồi trước lán. Dây đàn đã đứt gần hết. Tôi khẽ gảy thử. Âm thanh méo mó vang lên giữa rừng già. Không hiểu sao lúc ấy tôi nhớ cha vô cùng. Nhớ buổi tối ông từng ngồi dạy tôi bấm từng hợp âm dưới ngọn đèn dầu nhỏ. Chiến tranh có thể phá hỏng nhiều thứ. Nhưng ký ức thì không. Sau này một anh thợ mộc trong đơn vị giúp tôi sửa lại cây đàn bằng những mảnh gỗ nhặt được. Nó không còn đẹp nữa. Nhưng tôi vẫn giữ. Ngày hòa bình, tôi mang cây đàn ấy về quê. Mẹ nhìn cây đàn đầy vết nứt rồi lặng người rất lâu. Bà hỏi: “Nó theo con suốt chiến tranh à?” Tôi gật đầu. Đêm hôm ấy, lần đầu tiên sau nhiều năm, tôi lại ngồi giữa sân nhà đàn một bản nhạc cũ. Gió quê thổi qua hàng cau. Tiếng đàn vang lên chậm rãi dưới bầu trời yên bình. Tôi bỗng thấy nghẹn nơi cổ họng. Vì cuối cùng mình cũng được trở về. Còn biết bao người đồng đội năm ấy đã mãi mãi nằm lại giữa đất đỏ Tây Nguyên, mang theo cả tuổi hai mươi chưa kịp sống hết của mình.



