Người lính giữ đường Trường Sơn
Ông Lê Ngọc Sơn nhập ngũ tháng 10 năm 1968, thuộc Đại đội B1, Trung đoàn 762, Bộ Chỉ huy Thanh Hóa. Những năm tháng chiến đấu trên tuyến đường Trường Sơn tại chiến trường Quảng Bình đã để lại trong ông nhiều ký ức không thể nào quên. Trong mưa bom bão đạn, người chiến sĩ thông tin trẻ tuổi năm ấy đã nhiều lần vượt hiểm nguy để giữ mạch liên lạc cho đơn vị. Kỷ niệm về một đêm cứu đồng đội giữa trọng điểm bom vẫn luôn là điều ông nhớ nhất suốt cuộc đời quân ngũ.
Nhắc đến những năm tháng chiến tranh, ông Lê Ngọc Sơn thường trầm ngâm rất lâu rồi mới chậm rãi kể. Giọng ông không lớn, nhưng mỗi câu nói đều khiến người nghe cảm nhận rõ sự khốc liệt của chiến trường năm xưa.
Năm 1968, khi vừa tròn đôi mươi, ông tình nguyện lên đường nhập ngũ. Sau thời gian huấn luyện, ông được phân công làm chiến sĩ thông tin thuộc Đại đội B1, Trung đoàn 762, Bộ Chỉ huy quân sự Thanh Hóa. Đơn vị của ông được giao nhiệm vụ đảm bảo liên lạc trên tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn đoạn qua chiến trường Quảng Bình.
Ông kể:
“Ngày ấy gian khổ lắm cháu ạ. Ban ngày máy bay Mỹ đánh phá liên tục, anh em chỉ tranh thủ đi ban đêm. Có hôm vừa mắc xong đường dây thì bom dội xuống, dây đứt hết lại phải nối từ đầu.”
Điều ông nhớ nhất là vào mùa hè đỏ lửa năm 1972. Đêm ấy, đơn vị nhận lệnh khẩn cấp phải khôi phục tuyến thông tin tại khu vực ngầm Ta Lê — nơi được xem là “tọa độ lửa” của chiến trường Quảng Bình. Máy bay địch quần thảo suốt đêm, bom sáng thả trắng cả núi rừng.
Ông Sơn cùng ba đồng đội men theo sườn núi kéo dây. Đang làm nhiệm vụ thì một loạt bom nổ dữ dội khiến cả tổ bị hất văng xuống hố đất. Một đồng đội tên Hòa bị thương nặng ở chân, máu chảy rất nhiều.
Ông kể lại, ánh mắt vẫn đầy xúc động:
“Lúc ấy chỉ nghĩ phải cứu bằng được đồng đội. Tôi cõng Hòa băng qua suối, bom còn nổ phía sau. Hòa cứ bảo: ‘Mặc tao đi Sơn, còn nhiệm vụ.’ Nhưng anh em sống chết có nhau, ai bỏ được.”
Sau gần hai giờ vật lộn giữa mưa bom, ông đưa được đồng đội về trạm quân y an toàn rồi quay lại tiếp tục nối đường dây. Gần sáng, tuyến thông tin được khôi phục, mệnh lệnh chiến đấu của cấp trên tiếp tục truyền đi thông suốt.
Nhiều năm sau chiến tranh, mỗi lần nhắc lại câu chuyện ấy, ông vẫn bảo đó là ký ức không bao giờ quên của đời lính. Không phải vì chiến công lớn lao, mà bởi trong khói lửa chiến tranh, tình đồng đội trở thành điều thiêng liêng nhất.
Với những đóng góp trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông được tặng Huân chương Kháng chiến hạng Ba cùng nhiều bằng khen của đơn vị.


