Người Lính Giữ Kho Gạo
Cựu chiến binh Bế Văn Khương, sinh ngày 12 tháng 02 năm 1951, quê quán xã Đình Phùng, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, từng là chiến sĩ hậu cần tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước tại chiến trường miền Nam.
Ông Khương sinh ra trong một gia đình dân tộc Tày ở vùng núi biên giới phía Bắc. Tuổi thơ của ông gắn với những nương ngô, ruộng lúa bên sườn núi và những ngày theo cha vào rừng kiếm củi. Năm 1970, khi vừa tròn mười chín tuổi, ông tình nguyện nhập ngũ với mong muốn góp sức bảo vệ đất nước.
Sau thời gian huấn luyện, ông được phân công làm nhiệm vụ hậu cần, phụ trách bảo vệ và vận chuyển lương thực cho bộ đội tại chiến trường miền Đông Nam Bộ. Dù không trực tiếp cầm súng ở tuyến đầu, nhưng công việc của ông cũng vô cùng nguy hiểm vì kho lương thực luôn là mục tiêu đánh phá của địch.
Ông kể rằng những năm tháng ở chiến trường, hạt gạo quý như vàng. Có lúc cả đơn vị phải chia nhau từng lon gạo nhỏ để cầm cự trong những ngày bị địch bao vây.
Cuối năm 1972, đơn vị của ông đóng quân trong một cánh rừng gần Tây Ninh. Nơi đây có một kho gạo lớn dùng để tiếp tế cho nhiều đơn vị chiến đấu phía trước.
Một đêm mưa lớn, máy bay địch bất ngờ phát hiện khu vực đóng quân và bắt đầu ném bom dữ dội. Tiếng nổ vang dội khắp cánh rừng, cây cối gãy đổ ngổn ngang.
Trong lúc mọi người sơ tán, ông Khương phát hiện lửa bốc lên gần kho gạo. Nếu kho bị cháy, hàng trăm chiến sĩ ngoài mặt trận sẽ thiếu lương thực.
Không chút do dự, ông cùng nhiều đồng đội lao vào dập lửa giữa bom đạn. Mọi người dùng áo, dùng đất và cả nước mưa để cứu từng bao gạo khỏi biển lửa.
Ông xúc động kể lại:
“Lúc ấy ai cũng chỉ nghĩ phải giữ được kho gạo cho bộ đội phía trước. Mất gạo là đồng đội sẽ đói.”
Trong lúc cứu kho lương thực, người đồng đội thân thiết của ông là chiến sĩ Nông Văn Lâm quê Lạng Sơn đã bị mảnh bom trúng khi đang kéo bao gạo ra khỏi đám cháy.
Dù bị thương rất nặng, anh Lâm vẫn cố nói:
“Còn cứu được bao nào thì cố cứu…”
Đó cũng là những lời cuối cùng của người đồng đội mà ông Khương luôn nhớ mãi.
Sau trận bom, kho gạo được giữ lại phần lớn và kịp thời tiếp tế cho các đơn vị chiến đấu. Nhưng sự hy sinh của anh Nông Văn Lâm khiến cả đơn vị lặng đi trong đau xót.
Năm 1975, khi đất nước hoàn toàn giải phóng, ông Bế Văn Khương trở về quê hương Cao Bằng tiếp tục lao động sản xuất và tham gia công tác địa phương.
Đến nay, mỗi lần nhìn thấy những hạt gạo trắng trên mâm cơm, ông lại nhớ về những năm tháng chiến tranh gian khổ cùng những người đồng đội đã hy sinh để giữ vững tuyến hậu cần cho chiến trường.
Ông thường nhắn nhủ thế hệ trẻ:
“Các cháu hôm nay được sống trong hòa bình phải biết quý trọng thành quả lao động, yêu quê hương đất nước và không quên sự hy sinh của thế hệ cha anh.”



