Bài viết

NGƯỜI LÍNH GIỮA ĐỜI THƯỜNG

Người ta biết đến ông trước hết là ở vai trò của một Văn nghệ sỹ. Là hội viên Hội VHNT các dân tộc thiểu số Việt Nam, hội viên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, hội viên Hội VHNT tỉnh Yên Bái với hơn hai mươi đầu sách đã được xuất bản. Ông cũng được gọi là “con nhà nòi”, là rễ cây lớn của dòng họ Hoàng, con trai nhà văn Hoàng Hạc, người đặt nền móng cho nền văn học tỉnh Hoàng Liên Sơn. Hơn hết ông được gọi là cây bút viết cho thiếu nhi dân tộc miền núi bởi ông có nhiều tập truyện ngắn: “Cây sẹt tr

Lào Cai14/01/2026Dương Thu Phương (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Các cơ quan Đảng tỉnh Lào Cai)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Khi mới 19 tuổi, độ tuổi đẹp nhất của đời người, biết cảm, biết yêu, biết định hướng cho mục tiêu theo tiếng gọi của Tổ quốc, ông lên đường nhập ngũ. Những trang văn của ông bắt đầu từ việc ghi chép những trận đánh, ghi lại những cuộc gặp gỡ, ghi lại cảm xúc trên con đường hành quân. “Những ngày ở cánh đồng Chum” nhận được giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam, Hội hữu nghị Việt Lào bởi những cảm xúc sâu sắc, khắc họa hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ bước vào trận chiến với tâm thế và tinh thần hi sinh, đặc biệt bởi tình đồng đội, tình quân nhân không phân biệt biên giới, phá bỏ cả giới hạn không gian và thời gian. Trang viết được ra đời giữa khoảng nghỉ những chặng đường hành quân “Sau những tháng ngày làm nhiệm vụ quốc tế giúp nước bạn Lào, nay nhận lệnh hành quân từ Cánh Đồng Chum về nghỉ ngơi củng cố tại Đô Lương - Nghệ An” như cách nói của ông. Nhiều trang viết còn nguyên sự cảm xúc hỗn độn, mơ hồ vừa mừng vui, vừa tiếc nuối khi biết mình một chàng trai bé nhỏ còn sống mà các anh, những chiến sĩ dày dạn và quả cảm lại phải ra đi. Nếu ai đã đọc văn Hoàng Tương Lai, sẽ dễ hiểu vì sao ông trở thành tác giả văn chương có nhiều thành tựu. Không chỉ là thiên phú hay cái duyên với viết văn, không chỉ là việc được thừa hưởng tài hoa từ người cha, mà ở Hoàng Tương Lai có một trái tim rụng động, tha thiết, yêu thương một cách vô điều kiện và quý trọng nâng niu từng khoảng khắc, như cách ông kể về chuyện lấy tông đơ cắt bộ tóc dày rậm như tổ quạ cho các cháu, lấy thuốc cùng bông băng giúp mấy cụ già bị bong gân khi đi qua mảnh đất Tây Nguyên. Mặc cho người ta nghi ngờ mình là quân “Công sản”, hóa giải hiểu lầm “đêm ấy, không có điện nhưng chúng tôi cùng trò chuyện dưới ánh đèn dầu như một gia đình có người thân xa lâu ngày gặp lại”. Đó chỉ có thể là tâm trạng của những con người mà chính mình đã đi qua lằn ranh của sống chết, đã nếm trải, chiêm nghiệm đủ giá trị của sự sống. Đó chính là một người lính hơn cả lính.

Cho đến bây giờ, đã ở ngoài cái tuổi xưa nay hiếm, ông vẫn chăm chỉ viết lách. Có lẽ, đó không chỉ là trả nghiệp văn, nghiệp viết mà ông tha thiết muốn ghi lại những gì mình đã trải qua, muốn chắp nhặt lại những tư liệu quý, muốn nói hộ lòng của cả những đồng đội đã hi sinh”những lần sốt cao ấy, tôi vẫn mơ gặp Tuấn cùng bao đồng đội cùng trên chốt năm nào”. Con người ông, vẫn chất chứa một kho tư liệu, kho kí ức từ những ngày ở Lào, Nghệ An, rồi KonTum, Đắc Lắk, Sài Gòn. Đối với những nhà văn chiến sĩ, được chứng kiến giây phút chiếc xe tăng húc đổ cổng dinh Độc lập, được găm vào khối óc hình ảnh Mỹ cút, Ngụy nhào, đất nước cất cao khúc ca khải hoàn, non sông về một mối là một may mắn lớn như cách ông ghi lại trong nhật ký của mình “tôi cùng mấy đồng đội ngửa cổ uống những giọt sâm banh trong niềm vui chiến thắng”.

Nếu gọi Hoàng Tương Lai là nhà quản lý, nghe có vẻ to tát nhưng cũng chẳng sai. Rời quân ngũ, phục viên về quê, ông tham gia ngay vào công tác quản lý ở địa phương. Chỉ bốn tháng sau khi phục viên ông được bầu làm Bí thư đoàn thanh niên xã Xuân Lai. Từ đây, người thanh niên đầy nhiệt huyết ấy lao mình vào cuộc kháng chiến mới. Bắt tay vào gây dựng phong trào, hướng dẫn thanh niên trong xã chế tạo dụng cụ sản xuất phù hợp với đặc điểm của vùng miền núi để trồng cấy làm ăn mang lại hiệu quả cao. Kể cả trong gian khó ấy, ông vẫn lập nên các nhóm đàn hát văn nghệ để làm tươi vui cuộc sống như bài học ông học được từ ngày đi đánh trận. Khi chiến tranh biên giới phía Bắc, phía Nam kết thúc, cả nước bước vào giai đoạn đẩy mạnh phát triển kinh tế với nền kinh tế tập thể được coi là trụ cột. Bằng bản lĩnh của một người lính, sự từng trải khi đã kinh qua các mặt trận từ trong nước đến quốc tế, tầm nhìn và sự hiểu biết của một con người đã đi khắp Bắc, Trung, Nam ông một lần nữa được tín nhiệm được bầu làm Chủ nhiệm Hợp tác xã Nông nghiệp ngay khi mới vừa thành lập. Trăn trở tìm hướng đi, lăn lộn, liều lĩnh để thử nghiệm các mô hình làm ăn mới. Trời không phụ lòng người, Hợp tác xã Nông nghiệp Xuân Lai lúc đó là một trong những đơn vị có đóng góp đủ cho Nhà nước và đảm bảo đời sống cho bà con nhân dân. Sau 10 năm làm Chủ nhiệm, với kinh nghiệm quản lý kinh tế, với uy tín cá nhân ông được cấp trên cử, được cán bộ, đảng viên và nhân dân xã Xuân Lai bầu làm Bí thư Đảng ủy xã, người đứng đầu đưa ra mọi định hướng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cho địa phương. Nhớ về giai đoạn này, đồng chí đồng chí Phạm Minh Khai, nguyên là phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã, người cộng sự thân thiết của ông vừa kể vừa bày tỏ, “ Những năm 1988, 1989 khi cả nước đi vào thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI về đổi mới, nhận thấy tiềm năng của xã là đất đồi núi phù hợp với phát triển nông lâm nghiệp, với vai trò là người đứng đầu Đảng bộ lúc đó, đồng chí đã chọn khâu đột phá là”phá vườn tạp trồng cây có hiệu quả kinh tế cao như cây keo lai, bạch đàn mô, hay các vườn cây ăn quả có múi như cam, bưởi,.. Mới đầu cũng không được hưởng ứng vì mối quan tâm lớn nhất của người dân là lương thực và rất băn khoăn về đầu ra sản phẩm. Nhưng đồng chí Bí thư rất kiên định, vì ông tin, dám chắc mình đúng”. Giờ đây đi khắp các thôn trong xã đã không còn phải nhìn thấy đất trống đồi núi trọc, thay vào đó là những đồi cây xanh mướt, những vườn hoa trái trĩu cành. “Qua gần 40 năm phong trào ngày đó do đồng chí Hoàng Tương Lai phát động vẫn đang được nhân dân phát triển, nhân rộng, đưa lại nguồn thu nhập cao, ổn định cho bà con. Tính đến hết năm 2024, độ che phủ rừng của xã Xuân Lai đạt trên 88%, đó là cả một quá trình dài và đầy cố gắng, minh chứng cho tầm nhìn, lòng quyết tâm của một lãnh đạo khoác áo lính”. Với 15 năm là Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Yên Bình, 36 năm công tác luôn giữ vị trí người đứng đầu địa phương để thấy được khả năng tập hợp, lãnh đạo, định hướng và ra quyết định của vị lãnh đạo này. Ông cũng là người thầy đã nuôi dưỡng, dìu dắt nhiều thế hệ cán bộ địa phương. Con gái ông, chị Hoàng Thị Thiết, nguyên Bí thư Đảng ủy xã Xuân Lai cũ là một ví dụ. Và cho đến nay, ông vẫn là một pho kinh nghiệm lãnh đạo mà lớp trẻ phải thường xuyên xin ý kiến khi gặp vấn đề khó. Và chúng tôi cảm nhận được niềm tin xen lẫn tự hào khi ông nói về những điều này bằng bản lĩnh của một nhân chứng lịch sử trọn vẹn.

Nhưng nếu đã có dịp đến Xuân Lai, hỏi đa số những bọn trẻ gặp được trên đường về một ông Hoàng Tương Lai, sẽ được nghe vô số câu chuyện về một người dốc hết tâm sức đi phục dựng văn hóa Tày, tái hiện không gian Tày và truyền dạy tiếng nói, từng điệu dân ca, dân vũ của người Tày vùng sông Chảy.Mới đến đầu thôn, gạn lọc trong lời trẻ con rổn rảng sau buổi tan lớp từ câu lạc bộ dân ca; chắp nhặt trong cách nói rất chậm của những người tiếng Kinh còn chưa rõi, là hình ảnh một người đàn ông Tày hiền lành và giản dị, hồn hậu và thiết tha. Dáng người đậm, mang bộ đồ nâu sẫm, vai đeo túi với lỉnh kỉnh sổ, bút, kính, máy ghi âm và cây đàn bên hông, bước những bước chân lặng lẽ, cần mẫn trên mọi nẻo đường để sưu tầm các điệu dân ca, dân vũ của người đồng bào dân tộc Tày vùng đông hồ. Cũng người đàn ông ấy, có lúc với dáng điệu suy tư, ngồi bên ấm trà cùng các vị cao niên để trao đổi, cắt nghĩa cho một một nét văn hóa rồi thống nhất ghi vào sách vở. Người ta nói, văn hóa là tinh hoa, linh khí trời đất, ai có gốc sẽ không đi lạc. Vừa hay, tôi rời quê, nơi có trầm tích văn hóa khí khái và sang trọng của người miền Trung, thứ văn hóa nuôi dưỡng chúng tôi lớn lên mang vẻ đẹp đó đi muôn nơi và cũng là thứ níu kéo những đứa trẻ xa quê khỏi những sa ngã khi ngụp lặn, bon chen trong dòng đời xô bồ và náo nhiệt, văn hóa như nguồn rễ, gốc cội của mình, để tôi chung sống, tôi hòa mình, tôi yêu và luôn có thể thưởng thức cuộc sống tươi đẹp này. Khi gặp được nghệ nhân ưu tú Hoàng Tương Lai, người đã mang hết nhiệt tình, tâm huyết để sưu tầm, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa đặc sắc của các dân tộc thiểu số nói chung văn hóa đồng bào dân tộc Tày vùng Đông Hồ nói riêng, tôi cảm như vừa là cơ duyên, cũng là may mắn. Các lễ hội “Quan làng”, Tết Xíp Xí , hát “Pựt” và biết bao, nét đẹp văn hóa khác được phục dựng và đặc biệt đã hoàn thành cong trình trường ca sử thi “Khảm hải”. “Khải hải” luôn là một làn điệu dân ca được chờ đợt nhất của người Tày, vì bên cạnh giai điệu nó còn gắn với yêu tố tâm linh, là khúc hát không thể thiếu trong lễ “Pựt”, lễ xin vía, cầu an của đồng bào vùng dân tộc Tày. Trong một lần trò chuyện ông giải nghĩa cho tôi: “Khảm hải tên gốc là khảm khái, có nghĩa là vượt biển. Nhưng người miền núi làm gì có biển mà vượt. Đây là biển đời với muôn vàn sóng gió mà chỉ khi vượt qua 12 bể khổ ấy, con người mới có đủ ý chỉ sức mạnh và sự thành tâm để các đấng siêu nhiên ban cho điều phúc”. Vì thế, khi nhắc đến người Mường là ta nhớ “Đẻ đất đẻ nước”, nhắc đến người Thái chúng ta nhớ “Xống chụ xon xao” và nhắc đến người Tày là ta nhắc đến “Khảm hải” bên cạnh bao điệu si, lượn, khắp, cọi như một niềm tự hào riêng có.

Hiếm có người nào, dù là nghệ nhân lại có được nhiều giải thưởng về trình diễn văn hóa dân gian như ông: Giải B liên hoan hát then đàn tính toàn quốc lần II năm 2007; Giải C liên hoan tiếng hát dân ca việt Nam năm 2007; Huy chương vàng hội diễn nghệ thuật quần chúng tỉnh Yên Bái năm 2005 và 2011 cho hát cọi: Nhớ Bác Hồ; Giai C cuốn Hát quan làng trong đám cưới người Tày ở Yên Bái; Giải C tiết mục Roọng khoăn (gọi vía) hát then tại liên hoan dân ca 8 tỉnh miền núi phía Bắc năm 2016 và nhiều giải thưởng khác nữa.

Có thể, việc sưu tầm, biểu diễn văn hóa là đam mê, là thiên phú nhưng việc truyền dạy để những phong tục tập quán đặc sắc của các dân tộc thiểu số được sống với không gian văn hóa và đời sống riêng, để không bị mai một, để con cháu người Tày dù có thể hát rất hay những bài hát tiếng Anh, tiếng Trung, giỏi chơi piano, ghita vẫn không quên điệu then, đàn tính, không quên điệu si, điệu lượn thì cần cả một trách nhiệm cộng đồng, bản lĩnh của một người lính, những người luôn tự nguyện hi sinh, chiến đấu cho hôm nay vì một ngày mai bình yên và tươi đẹp.Ông là người đầu tiên đề nghị với cấp ủy, chính quyền thành lập câu lạc bộ đàn hát dân ca. Trong những ngày sơ khai ấy, chính ông đã dành tiền hưu trí ít ỏi để mua đàn tính và trang phục, sửa lại nhà để mở lớp truyền dạy hát dân ca Tày như hát khắp, coọi, phong slư. Trước hết là ông dạy cho con gái và các cháu trong nhà, sau đó là vận động các cháu thanh thiếu nhi cùng trang lứa đến học. Tiếng hát trong veo cất lên từ những gương mặt thơ ngây đã làm tươi vui cả một vùng quê nghèo. Câu lạc bộ Dân ca Tày do ông thành lập và dẫn dắt giúp cho các cháu biết hát những làn điệu dân ca của dân tộc mình, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc rất đặc trưng như ở nhà sàn, mặc trang phục dân tộc Tày, nhất là ở lứa tuổi trẻ. Và từ một câu lạc bộ của xã Xuân Lai đến nay trên đã có tới 17 câu lạc bộ đàn hát dân ca vừa phục vụ nhu cầu văn hóa văn nghệ của bà con nhân dân, vừa phục vụ khách khi đến tham quan du lịch, quan trọng hơn hết là tạo thành phong trào sưu tầm, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc của bà con vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Một lý do quan trọng dẫn bước tôi hôm nay đến gặp con người tài hoa này là để chúc mừng công trình sưu tầm, giới thiệu, dịch “Văn cúng dân tộc Tày vùng sông Chảy, Yên Bái” được Hội văn nghệ dân gian Việt Nam tặng giải B. Niềm vui này giúp ông có thêm niềm tin, động lực và cả kinh tế để thực hiện công cuộc phục dựng, truyền dạy văn hóa Tày. Ông cũng là khách mời thường xuyên của VTC 14 và các chương trình về văn hóa dân tộc vùng Tây Bắc của đài truyền hình các địa phương như một đại sứ văn hóa.

Đến thăm ông tại ngôi nhà sàn nhỏ ấm cúng nằm giữa vườn cây trái xum xuê, giữa bao nhiêu bằng khen, giấy khen và kho sách vở, tư liệu; trao đổi với ông về những dự định đang ấp ủ, mới thấy người thương binh ấy chưa bao giờ ra khỏi cuộc chiến với chính mình. Là công cuộc xây dựng phát triển kinh tế, nuôi bốn người con trưởng thành trở thành những cô giáo, chiến sĩ công an...; là trăn trở với những quyết sách ảnh hưởng đến sinh mạng hàng trăm con người trong vai trò là người đứng đầu tổ chức; là người luôn đau đáu với dòng chảy văn hóa dân tộc. Và giờ đây, bằng chính cuộc sống của mình ông xây dựng nên một hình mẫu về sự hi sinh, tình đoàn kết, khát vọng cho một đời sống văn hóa mới giữa vùng đất vốn còn nhiều hủ tục lạc hậu.

Và tôi tin, ông làm được tất cả những điều đó nhờ có dòng máu “lính cụ Hồ” chưa bao giờ ngừng tuôn chảy trong con người nhiệt huyết ấy - Nghệ nhân ưu tú, Cựu chiến binh Hoàng Tương Lai.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn