NGƯỜI LÍNH HẬU CẦN GIỮA ĐẠI NGÀN TRƯỜNG SƠN
rong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, có những người lính được nhắc đến qua những trận đánh oanh liệt, nhưng cũng có những người âm thầm cống hiến ở phía sau chiến tuyến. Họ không trực tiếp xung phong vào trận địa, không xuất hiện trong những bản tin chiến thắng, nhưng những đóng góp của họ đã góp phần làm nên sức mạnh để quân và dân ta đi đến thắng lợi cuối cùng. Cựu chiến binh Trần Văn Quý là một trong những người lính như thế.
Câu chuyện: NGƯỜI LÍNH HẬU CẦN GIỮA ĐẠI NGÀN TRƯỜNG SƠN
Tác giả: Lê Anh Quân- đoàn viên thanh niên thôn Hoàng Phú
Đồng tác giả: Ban Thường vụ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh xã Hải Châu
Thông tin nhân vật
Họ và tên: Trần Văn Quý
Năm sinh: 1950
Quê quán: xã Hải Châu, tỉnh Nghệ An
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, có những người lính được nhắc đến qua những trận đánh oanh liệt, nhưng cũng có những người âm thầm cống hiến ở phía sau chiến tuyến. Họ không trực tiếp xung phong vào trận địa, không xuất hiện trong những bản tin chiến thắng, nhưng những đóng góp của họ đã góp phần làm nên sức mạnh để quân và dân ta đi đến thắng lợi cuối cùng. Cựu chiến binh Trần Văn Quý là một trong những người lính như thế.
Sinh ra và lớn lên tại xã Hải Châu, trong những năm tháng đất nước chìm trong khói lửa chiến tranh, ông sớm chứng kiến cảnh quê hương chịu nhiều mất mát do bom đạn. Chính điều đó đã thôi thúc người thanh niên trẻ tuổi quyết tâm lên đường bảo vệ Tổ quốc.
Năm 1969, khi vừa tròn mười chín tuổi, ông tình nguyện nhập ngũ. Sau thời gian huấn luyện, ông được biên chế vào đơn vị hậu cần. Nhiệm vụ của ông là vận chuyển lương thực, thực phẩm, quân trang, thuốc men và các nhu yếu phẩm phục vụ cho các đơn vị đang chiến đấu ở chiến trường miền Nam.
Ông kể rằng công việc hậu cần tuy không trực tiếp đối mặt với quân địch trên chiến hào nhưng lại vô cùng gian khổ. Những chuyến vận chuyển thường phải thực hiện vào ban đêm để tránh máy bay trinh sát. Các chiến sĩ mang trên vai những bao gạo, thùng đạn hoặc thuốc men nặng hàng chục kilôgam, băng qua núi cao, rừng sâu và những con suối dữ.
Có những chặng đường kéo dài hàng chục kilômét. Ban ngày mọi người phải trú ẩn dưới những tán rừng rậm để tránh sự phát hiện của địch. Đêm xuống mới tiếp tục hành quân. Mỗi bước đi đều phải hết sức cẩn thận vì địa hình hiểm trở, nhiều nơi chỉ cần trượt chân là có thể gặp nguy hiểm.
Ông Quý nhớ nhất những tháng mùa mưa trên dãy Trường Sơn. Những cơn mưa rừng kéo dài khiến đường đất trở nên lầy lội. Nhiều đoạn đường bị sạt lở nghiêm trọng. Có những lúc cả đơn vị phải dùng dây thừng kéo nhau vượt qua những con dốc trơn trượt. Quần áo luôn trong tình trạng ướt sũng, đôi chân phồng rộp vì đi bộ liên tục nhưng không ai cho phép mình dừng lại.
Một lần, đơn vị của ông nhận nhiệm vụ vận chuyển lương thực đến một khu vực chiến đấu đang rất cần tiếp tế. Sau nhiều ngày hành quân, khi chỉ còn cách điểm tập kết không xa thì bất ngờ gặp mưa lớn. Nước suối dâng cao khiến cả đoàn phải dừng lại bên bờ.
Nếu chờ nước rút, việc tiếp tế sẽ bị chậm trễ. Sau khi bàn bạc, đơn vị quyết định tìm một vị trí an toàn hơn để vượt suối. Mọi người kết dây thành từng nhóm, hỗ trợ nhau đưa hàng hóa sang bờ bên kia. Công việc kéo dài suốt nhiều giờ đồng hồ trong điều kiện vô cùng nguy hiểm.
Khi đoàn hàng đến nơi an toàn, các chiến sĩ ở phía trước đã vô cùng xúc động. Ông Quý kể rằng nhìn những bao gạo, những thùng thuốc được chuyển đến đúng lúc, mọi người cảm thấy mọi gian khổ mình vừa trải qua đều hoàn toàn xứng đáng.
Trong những năm tháng ấy, sốt rét rừng là nỗi ám ảnh của rất nhiều chiến sĩ. Bản thân ông cũng nhiều lần bị những cơn sốt hành hạ. Có những đêm đang hành quân, người run lên vì rét nhưng vẫn phải cố gắng bước tiếp. Sau khi nghỉ ngơi tạm thời, ông lại cùng đồng đội tiếp tục lên đường vì nhiệm vụ không thể trì hoãn.
Điều khiến ông nhớ nhất chính là tình đồng đội. Những người lính trẻ đến từ nhiều vùng quê khác nhau nhưng luôn yêu thương và đùm bọc lẫn nhau như anh em ruột thịt. Khi có người bị ốm, mọi người thay nhau chăm sóc. Khi ai đó gặp khó khăn trong lúc vận chuyển, cả tổ cùng chung tay giúp đỡ.
Ông kể rằng có lần một đồng đội bị kiệt sức giữa đường. Không ai bỏ lại anh phía sau. Mọi người chia nhau mang hộ phần hàng hóa và dìu đồng đội vượt qua chặng đường còn lại. Chính tình cảm ấy đã trở thành nguồn động lực giúp những người lính vượt qua mọi gian khổ của chiến tranh.
Dù công việc thầm lặng, nhưng những người lính hậu cần luôn hiểu rõ ý nghĩa nhiệm vụ của mình. Mỗi bao gạo được chuyển đến chiến trường, mỗi thùng thuốc được đưa tới đơn vị chiến đấu đều góp phần bảo vệ sự sống của đồng đội và tiếp thêm sức mạnh cho các trận đánh.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi nghe tin miền Nam hoàn toàn giải phóng, cả đơn vị vỡ òa trong niềm vui chiến thắng. Sau bao năm xa quê, sống giữa núi rừng và bom đạn, cuối cùng ngày hòa bình mà họ hằng mong đợi đã đến.
Sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, ông Trần Văn Quý trở về quê hương Hải Châu. Mang theo những kỷ niệm không thể nào quên của một thời tuổi trẻ, ông bắt tay vào lao động sản xuất, xây dựng gia đình và góp sức cho các phong trào tại địa phương.
Dù đã bước sang tuổi xế chiều, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động của Hội Cựu chiến binh. Mỗi khi được gặp gỡ đoàn viên, thanh niên và học sinh, ông lại kể về những năm tháng gian khổ trên tuyến đường Trường Sơn, về tình đồng đội thiêng liêng và ý chí kiên cường của thế hệ cha anh.
Ông thường nhắn nhủ thế hệ trẻ rằng hòa bình hôm nay không phải tự nhiên mà có. Đó là thành quả được đánh đổi bằng biết bao mồ hôi, nước mắt và cả sự hy sinh của hàng triệu người con đất Việt. Vì vậy, mỗi người trẻ cần sống có trách nhiệm, không ngừng học tập, rèn luyện để góp phần xây dựng quê hương và đất nước ngày càng giàu mạnh.
Câu chuyện của cựu chiến binh Trần Văn Quý không chỉ giúp chúng ta hiểu thêm về những đóng góp thầm lặng của lực lượng hậu cần trong kháng chiến mà còn là bài học sâu sắc về tinh thần trách nhiệm, ý chí vượt khó và lòng yêu nước. Những người lính hậu cần năm xưa tuy không trực tiếp xông pha nơi tuyến đầu nhưng chính họ đã góp phần giữ vững mạch máu của chiến trường, đóng góp vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam.
Tác giả: Lê Anh Quân



