người lính Hoàng Hữu Thế - trở về từ khói lửa
Câu chuyện Người lính Hoàng Hữu Thế - Trở về từ khói lửa
Thôn Lương Tàm xã Lương Thịnh huyện Trấn Yên tỉnh Yên Bái, những năm sáu mươi còn nghèo lắm. Cả vùng khi ấy chìm trong không khí khẩn trương của đất nước đang bước vào giai đoạn cam go nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Trong cái nắng hanh hao của miền trung du Yên Bái, chàng thanh niên Hoàng Hữu Thế, tuổi vừa đôi mươi, nghe tiếng loa phát thanh vang khắp bản làng về lời kêu gọi bảo vệ Tổ quốc.
Tháng 07/1967, anh khoác ba lô lên đường nhập ngũ – bước chân rời quê hương mà lòng rạo rực như có lửa. Anh được biên chế vào Tiểu đoàn 165, Yên Ninh 1, huấn luyện tại xã Tân Hương, Yên Bình. Bốn tháng rèn luyện gian khổ: hành quân dã ngoại, bắn súng, vượt chướng ngại, thay nhau gác dưới trời đêm sương lạnh… tất cả đã tôi luyện một người lính thật sự trong anh.
Đến 10/12/1967, đơn vị nhận lệnh hành quân vượt Trường Sơn vào Nam. Cuộc hành quân kéo dài hàng tháng trời, đi bộ từ Yên Bái vào đến tận Tây Ninh. Đêm ngủ rừng, ngày lội suối, vượt những con dốc dựng đứng tưởng như không có điểm dừng. Nhưng chính tình đồng chí, những câu hát bất chợt giữa đại ngàn đã nâng từng bước người lính trẻ.
Tháng 8/1968, cuộc chiến bước vào giai đoạn ác liệt. Đơn vị của anh được điều vào tham gia các trận đánh trên tuyến giao thông Cầu Khởi – Lộ 26, tỉnh Tây Ninh. Chỉ trong 11 ngày đêm, anh và đồng đội phải tham gia tới 9 trận đánh liên tiếp. Bom đạn cày nát từng khoảnh đất, mùi khói súng và hơi đất cháy trộn vào nhau, tiếng pháo giội xuống từng hồi như xé toang bầu trời. Nhưng những người lính trẻ vẫn kiên cường bám trụ, giữ vững trận địa.
Sau chiến dịch đó, đơn vị rút về đất K10, Campuchia để củng cố lực lượng. Những ngày nghỉ hiếm hoi nơi đất bạn là khoảng lặng ngắn ngủi giữa vòng xoáy chiến tranh. Tối đến, các chiến sĩ quây quần bên ánh lửa, kể chuyện về quê hương, về mẹ già đợi con, về ước mơ hòa bình. Nhưng ngày lặng yên nào rồi cũng phải kết thúc.
Cuối 12/1968, đơn vị tiếp tục hành quân về hướng Sân bay Biên Hòa. Một trận đánh lớn được dự kiến, nhưng kế hoạch bị lộ, buộc đơn vị phải rút nhanh. Hành quân liên tục, mệt mỏi nhưng không ai than vãn – bởi tất cả hiểu rằng mỗi bước chân đều góp phần vào con đường đi đến độc lập.
Đến 19/5/1969, đơn vị tham chiến tại Đồn Định Quán, tỉnh Long Khánh. Trận đánh diễn ra khốc liệt, địch phản công dữ dội. Trong một đợt bắn pháo cấp tập, anh Hoàng Hữu Thế bị thương ở lưng. Đồng đội đã cõng anh băng qua trận địa, đưa về tuyến sau. Những ngày nằm điều trị, anh vừa nhớ quê nhà, vừa nôn nóng được trở lại đơn vị. Và đến 2/9/1969, anh xuất viện, chuyển sang làm dược công tại Đội Phẫu – Đoàn Hậu cần 84.
Những năm sau đó, anh tiếp tục phục vụ trong ngành quân y – một công việc thầm lặng nhưng đầy ý nghĩa. Cuối 1970, anh được cử đi học tại Trường Dược B5E – Trung đoàn Hậu cần 84, tốt nghiệp năm 4/1972, rồi về công tác tại Đội Phẫu DT111. Tại đây, anh sát cánh cùng các bác sĩ, y tá cứu chữa thương binh trong suốt những năm tháng cuối cùng của cuộc chiến. Không trực tiếp cầm súng ngoài mặt trận, nhưng mỗi ca cứu chữa, mỗi mũi thuốc anh thực hiện đều là góp phần giữ lại sinh mạng của đồng đội.
Ngày đất nước giải phóng 30/4/1975, anh ở trong đơn vị, nghe tin chiến thắng mà nước mắt trào ra. Những đồng đội đã nằm lại chiến trường như đang trở về trong niềm vui sum họp.
Từ tháng 5/1975, anh được điều về Tổng kho Long Bình (đơn vị B752, Tổng cục Kỹ thuật) – tiếp tục phục vụ cho công cuộc bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới. Đến 9/1976, anh xuất ngũ, chuyển ngành về Bưu điện tỉnh Yên Bái, rồi đến 31/12/1979 trở về quê hương Lương Thịnh sinh sống, lao động và cống hiến trong đời sống thường nhật.
Năm tháng chiến tranh đã để lại trong anh những vết thương không thể nhìn thấy: anh được Nhà nước công nhận là Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học từ năm 2004. Nhưng chưa bao giờ anh than vãn, kể khó khăn, Với anh, được sống và được trở về quê hương đã là niềm hạnh phúc lớn lao.
Giờ đây, khi kể lại chuyện xưa, giọng anh trầm lắng nhưng ánh mắt vẫn sáng lạ thường. Thời hoa lửa ấy – dù gian khổ, hy sinh, mất mát – vẫn là quãng đời đẹp nhất. Bởi đó là những năm tháng mà người lính trẻ Hoàng Hữu Thế đã sống trọn vẹn với lý tưởng, với xương máu của cả một thế hệ thanh niên Việt Nam.



