Bài viết

NGƯỜI LÍNH LÁI XE “CƠM CÓ THỂ KHÔNG CÓ, NHƯNG XE NHẤT ĐỊNH KHÔNG THỂ BỎ”

Tác Giả: Trần Diệp Anh

Hưng Yên22/08/2026xã Thái Tân (Xã Thái Tân)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Đoàn Minh Nguyệt sinh năm 1932 tại Kim Động, Hưng Yên. Năm 1963, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ ngày càng ác liệt, ông khai hạ tuổi để đủ điều kiện nhập ngũ. Năm 1965, ông được điều về Cục Hậu cần Quân khu 4, đảm nhiệm vận chuyển vũ khí, lương thực từ miền Bắc vào chiến trường miền Nam qua đất bạn Lào.

Trên tuyến đường Trường Sơn, ông cùng đồng đội phải đối mặt với bom đạn, mưa lũ và những cung đường hiểm trở. Có lần, chiếc Gaz-63 do ông điều khiển trúng bom tại Savannakhet. Dù bị 32 mảnh bom găm khắp cơ thể, máu ướt đẫm lưng áo, ông vẫn cố lái xe đến trạm gần nhất để bảo vệ người và hàng. Sau hơn một tháng điều trị, ông lại xin trở về đơn vị vì “nhớ xe, nhớ đường”.

Có những chuyến hàng, nước lũ khiến xe mắc kẹt cả tháng. Đói khát, thiếu thốn, ông cùng đồng đội phải ăn măng và rau rừng, thậm chí vượt lũ hàng chục cây số để xin gạo. Nhưng dù khó khăn đến đâu, họ vẫn quyết tâm giữ xe và hàng hóa.

Từ năm 1965 đến 1968, Đoàn Minh Nguyệt cùng đồng đội thực hiện hơn 600 chuyến hàng, vận chuyển trên 1.000 tấn vũ khí, lương thực, đưa hàng nghìn chiến sĩ vào chiến trường với tổng quãng đường hơn 95.000km.

Tháng 8-1968, ông được ra Hà Nội báo cáo điển hình tại Hội nghị “Chiến sĩ lái xe giỏi và thợ sửa chữa xe giỏi toàn quân”. Tại đây, ông vinh dự được gặp Bác Hồ và được Người trao Huy hiệu Bác Hồ. Kỷ niệm ấy trở thành động lực để ông tiếp tục vượt qua mọi gian khổ.

Năm 1969, trong một chuyến vận chuyển tại Nam Lào, mưa lũ cuốn trôi toàn bộ cầu và ngầm. Ông cùng đồng đội vừa hành quân vừa chặt cây bắc cầu, trong hai tháng dựng 22 cầu, ngầm để đưa hàng đến nơi an toàn.

Tháng 8-1970, Đoàn Minh Nguyệt được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Cuối năm 1974, ông trở thành Đại đội trưởng, tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Sau ngày đất nước thống nhất, ông tiếp tục công tác tại Cục Hậu cần Quân khu 4 đến năm 1983 rồi nghỉ hưu.

Trở về đời thường, người lính năm xưa vẫn không ngừng cống hiến. Ông phát triển kinh tế gia đình, nuôi trồng thủy sản, tạo việc làm cho người dân địa phương và tích cực tham gia các hoạt động xã hội, trong đó có Hội nạn nhân chất độc da cam và Hội quân tình nguyện Việt Nam - Lào.

Hơn 60 năm đã trôi qua, người chiến sĩ lái xe năm nào vẫn giữ trong mình tinh thần của những năm tháng Trường Sơn: có thể thiếu cơm, thiếu nước, có thể đối mặt với bom đạn và hiểm nguy, nhưng nhất định không bỏ lại nhiệm vụ.

Đó không chỉ là câu chuyện về một người Anh hùng, mà còn là câu chuyện về cả một thế hệ đã âm thầm giữ vững những con đường huyết mạch để hậu phương có thể gửi sức người, sức của đến tiền tuyến, góp phần làm nên ngày đất nước thống nhất.


Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn