Bài viết

Người lính lái xe trên những cung đường Trường Sơn huyền thoại

Người lính lái xe trên những cung đường Trường Sơn huyền thoại

Hải Phòng12/01/2026Nguyễn Thị Thu (Đoàn TN phường Phạm Sư Mạnh)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Người lính lái xe trên những cung đường Trường Sơn huyền thoại

Trời Thanh Hóa hôm ấy lặng gió, nắng vàng vọt, trong gian phòng khách đơn sơ tại phường Tĩnh Gia, một người lính già cẩn thận mở hộp đựng những chiếc huy hiệu, kỷ niệm chương và vài mảnh giấy đã sờn cũ. Người lính ấy là cựu chiến binh, Trung úy Dương Công Đáo, sinh năm 1952, nguyên lái xe của Sư đoàn Ô tô - Vận tải 571, Đoàn 559 trên đường Trường Sơn huyền thoại.

Năm 1972, chàng trai trẻ Dương Công Đáo - khi đó mới 20 tuổi - từ làng quê Thanh Hóa lên đường nhập ngũ. Cũng như nhiều thanh niên khác, ông mang trong mình khát vọng giải phóng đất nước, thống nhất non sông. Sau khi nhập ngũ, ông được điều động về Đoàn 559 - đơn vị đảm nhiệm vận tải chi viện cho chiến trường miền Nam qua đường Trường Sơn.

Chiếc xe ông được biên chế là Zil-157, dòng xe Liên Xô cỡ lớn mà bộ đội ta quen gọi là “ngựa thồ ba cầu”. Vỏ ngoài thô ráp, động cơ khỏe, Zil-157 không chỉ là phương tiện vận tải mà còn là người bạn đồng hành, là nơi ăn nghỉ, sống - chết của những người lính lái xe vượt Trường Sơn năm ấy. Mỗi chuyến hàng, mỗi hành trình, đều là một cuộc chiến với bom đạn, sốt rét, gian khổ và cả cái chết luôn rình rập.

Khi được hỏi về sự nguy hiểm của nhiệm vụ lái xe chi viện chiến trường, ông kể: “Lái xe ban đêm qua rừng già thời đó rất nguy hiểm, bật đèn sáng có thể bị máy bay địch phát hiện và tiêu diệt bất cứ lúc nào, chúng tôi phải tìm cách chế tạo “đèn ống bơ”, sao cho vừa đủ sáng để thấy đường đi nhưng không bị địch phát hiện. Cũng có những chuyến chúng tôi đi giữa trận oanh tạc của địch, tiếng máy bay gầm rú chói tai lắm! Dù vậy nhưng không được lấy tay bịt tai, vẫn phải chắc tay mà lái, vì chỉ cần chệch tay lái ở một khúc cua là cả người và xe có thể lao xuống vực”.

Năm 1974, chiến trường miền Nam bước vào giai đoạn ác liệt. Ông cùng đơn vị nhận lệnh tăng chuyến để “thọc sâu, vươn dài” vào Lộc Ninh (thuộc địa phận tỉnh Tây Ninh, giáp biên giới Campuchia). Nhiệm vụ lần này có ý nghĩa sống còn và quyết định đến cục diện cuộc chiến trước khi mở rộng chiến trường ra các tỉnh phía Đông. Ngày lên đường, cả ông và đồng đội được đơn vị tổ chức “lễ truy điệu sống” - một nghi thức bi tráng và linh thiêng với lời thề “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” của lính lái xe vượt Trường Sơn ngày đó.

Trong ánh sáng tờ mờ lúc chập tối, những người lính trẻ đứng nghiêm trang, trầm lắng, cảm nhận từng giây phút của buổi lễ thấm sâu vào tim gan mình. Ông Đáo kể: “Lúc đó không ai sợ hãi, cũng chẳng ai nói với nhau câu gì. Tất cả chỉ có một điều duy nhất trong đầu - phải đến được chiến trường, phải chi viện cho miền Nam dù có đánh đổi bằng mạng sống của mình”.

Và điều gì đến cũng đến, khi vừa tới gần ngã ba Đông Dương, đoàn xe của ông và đồng đội bị máy bay Mỹ phát hiện, tập kích, thả bom liên tục... Một tiếng nổ long trời. Cả xe ông chao đảo. Ông ù tai, mắt tối dần... rồi lặng thinh...

Khi tỉnh lại, ông thấy mình đang nằm trong Bệnh viện dã chiến của Đoàn 559 cùng mấy người đồng đội, ông đã ngất đi ngay khi bị trúng bom, ông không còn nhớ gì về trận tập kích đó: “Tôi không biết ai đưa mình về bệnh viện, đưa khi nào, bằng cách nào. Chỉ biết là sống rồi, còn sống là mình còn cơ hội đi tiếp!”.

Chỉ vài ngày sau khi được sơ cứu, dù vết thương chưa lành hẳn, ông lại xin lên đường sớm. “Lúc đó, mỗi ngày là một ngày vàng cho cách mạng. Không thể chậm trễ, chậm trễ là tự mình bỏ lỡ thời cơ chiến thắng”. Lần này, ông lái xe theo những con đường mòn mới mở do các cô giao liên dẫn đường - những thiếu nữ vừa rắn rỏi vừa gan dạ đã trở thành một biểu tượng kiên cường của phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh. Trên đường đi ông cũng được các “cô gái đếm bom” giúp đỡ.

Trải qua mấy tháng mùa khô, khi miền Nam bước vào mùa mưa cũng là lúc ông và đồng đội hành quân trở ra tỉnh Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) để sửa chữa, bảo dưỡng xe, chuẩn bị bắt đầu mùa vận tải chi viện mới vào mùa khô năm sau. Năm tháng ấy trôi qua như những bánh xe lăn đều, không một giấc ngủ trọn vẹn, không một ngày yên bình nhưng ông và đồng đội chưa từng nghĩ đến việc dừng lại.

Tay nâng chén trà đặc, ông uống một ngụm rồi chầm chậm đặt xuống: “Hồi đó họ ví những người lính lái xe Trường Sơn chúng tôi như những cánh chim không biết mệt mỏi, cứ chạy dọc để kết nối hậu phương với tiền tuyến. Dù khó khăn và đầy rẫy nguy hiểm nhưng ai cũng hiểu chỉ cần ta chậm một nhịp thì bộ đội ta có thể mất lợi thế, thậm chí thất bại trên chiến trường, đó là điều không ai mong muốn. Lái xe năm ấy không chỉ là giữ tay lái, mà là giữ mạch máu sống cho cả chiến trường. Một chuyến xe lăn bánh là một đơn vị có đạn, có lương khô, có hy vọng chiến thắng”.

Sau gần 15 năm phục vụ trong Quân đội, trải qua nhiều chiến trường, được tổ chức không biết bao nhiêu lần “lễ truy điệu sống”, Trung úy Dương Công Đáo trở về quê hương, mang theo những thương tích không nhìn thấy. Theo kết quả giám định, ông bị thương tật 25%, mất sức 62%, hậu quả của chất độc da cam vẫn còn trong da thịt. Nỗi đau lớn hơn là hai người con của ông cũng bị ảnh hưởng bởi chất độc màu da cam, một người đã qua đời khi còn nhỏ...

Mang cả nỗi đau về thể xác và tinh thần do chiến tranh để lại nhưng ông chưa một lần than thở. Giờ đây, ở tuổi 73, chàng trai trẻ lái xe Trường Sơn năm xưa vẫn giữ tinh thần lạc quan bên người vợ đã cùng ông đi qua những năm tháng vất vả, hai ông bà sum vầy bên con cháu và chăm chút những luống rau trong mảnh vườn nhỏ.

Mỗi lần có dịp trò chuyện với thế hệ trẻ, ông lại nhìn xa xăm và kể về những cung đường máu lửa, về những đồng đội đã hóa thành bất tử giữa rừng Trường Sơn. Kể để tuổi trẻ hôm nay biết rằng thế hệ của ông đã không tiếc nuối thanh xuân mà đương đầu với mưa bom, bão đạn; kể để hậu thế luôn nhớ lớp lớp cha anh đã chiến đấu và nằm xuống cho đất nước có ngày độc lập, tự do như hôm nay.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn