Khác

Người lính lái xe trên những cung đường Trường Sơn huyền thoại

rời Thanh Hóa hôm ấy lặng gió, nắng vàng vọt, trong gian phòng khách đơn sơ tại phường Tĩnh Gia, một người lính già cẩn thận mở hộp đựng những chiếc huy hiệu, kỷ niệm chương và vài mảnh giấy đã sờn cũ. Những đường gân hằn trên đôi tay run run vẫn còn in dấu hành trình của một thời hoa lửa khốc liệt. Mắt ông dần nhòe đi khi trỏ tay về từng tấm huy hiệu và kỷ niệm chương với những câu chuyện phía sau đó. Người lính ấy là cựu chiến binh, Trung úy Dương Công Đáo, sinh năm 1952, nguyên lái xe của Sư

Gia Lai06/04/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Năm 1972, chàng trai trẻ Dương Công Đáo - khi đó mới 20 tuổi - từ làng quê Thanh Hóa lên đường nhập ngũ. Cũng như nhiều thanh niên khác, ông mang trong mình khát vọng giải phóng đất nước, thống nhất non sông. Sau khi nhập ngũ, ông được điều động về Đoàn 559 - đơn vị đảm nhiệm vận tải chi viện cho chiến trường miền Nam qua đường Trường Sơn.

Chiếc xe ông được biên chế là Zil-157, dòng xe Liên Xô cỡ lớn mà bộ đội ta quen gọi là “ngựa thồ ba cầu”. Vỏ ngoài thô ráp, động cơ khỏe, Zil-157 không chỉ là phương tiện vận tải mà còn là người bạn đồng hành, là nơi ăn nghỉ, sống - chết của những người lính lái xe vượt Trường Sơn năm ấy. Mỗi chuyến hàng, mỗi hành trình, đều là một cuộc chiến với bom đạn, sốt rét, gian khổ và cả cái chết luôn rình rập.

Khi được hỏi về sự nguy hiểm của nhiệm vụ lái xe chi viện chiến trường, ông kể: “Lái xe ban đêm qua rừng già thời đó rất nguy hiểm, bật đèn sáng có thể bị máy bay địch phát hiện và tiêu diệt bất cứ lúc nào, chúng tôi phải tìm cách chế tạo “đèn ống bơ”, sao cho vừa đủ sáng để thấy đường đi nhưng không bị địch phát hiện. Cũng có những chuyến chúng tôi đi giữa trận oanh tạc của địch, tiếng máy bay gầm rú chói tai lắm! Dù vậy nhưng không được lấy tay bịt tai, vẫn phải chắc tay mà lái, vì chỉ cần chệch tay lái ở một khúc cua là cả người và xe có thể lao xuống vực”. Năm 1974, chiến trường miền Nam bước vào giai đoạn ác liệt. Ông cùng đơn vị nhận lệnh tăng chuyến để “thọc sâu, vươn dài” vào Lộc Ninh (thuộc địa phận tỉnh Tây Ninh, giáp biên giới Campuchia). Nhiệm vụ lần này có ý nghĩa sống còn và quyết định đến cục diện cuộc chiến trước khi mở rộng chiến trường ra các tỉnh phía Đông. Ngày lên đường, cả ông và đồng đội được đơn vị tổ chức “lễ truy điệu sống” - một nghi thức bi tráng và linh thiêng với lời thề “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” của lính lái xe vượt Trường Sơn ngày đó.

Trong ánh sáng tờ mờ lúc chập tối, những người lính trẻ đứng nghiêm trang, trầm lắng, cảm nhận từng giây phút của buổi lễ thấm sâu vào tim gan mình. Ông Đáo kể: “Lúc đó không ai sợ hãi, cũng chẳng ai nói với nhau câu gì. Tất cả chỉ có một điều duy nhất trong đầu - phải đến được chiến trường, phải chi viện cho miền Nam dù có đánh đổi bằng mạng sống của mình”.

Sau “lễ truy điệu sống” ông cùng đồng đội lên xe, tay cầm chắc vô lăng, bắt đầu xuất phát từ Thạch Bàn (gần bến phà Long Đại, tỉnh Quảng Bình cũ, nay là tỉnh Quảng Trị), xuyên rừng, vượt suối theo đường 16, qua Bản Đông, hướng tới đèo An Bun - những địa danh mà chỉ có trong “bản đồ” và ký ức của những người lính lái xe Trường Sơn năm xưa - tuyến đường mà họ nắm rõ nơi nào là điểm đen vận tải, khúc cua nào có thể là điểm ngắm của máy bay địch. Nhưng họ không được dừng lại, họ phải quyết tâm đi qua...

Và điều gì đến cũng đến, khi vừa tới gần ngã ba Đông Dương, đoàn xe của ông và đồng đội bị máy bay Mỹ phát hiện, tập kích, thả bom liên tục... Một tiếng nổ long trời. Cả xe ông chao đảo. Ông ù tai, mắt tối dần... rồi lặng thinh...

Khi tỉnh lại, ông thấy mình đang nằm trong Bệnh viện dã chiến của Đoàn 559 cùng mấy người đồng đội, ông đã ngất đi ngay khi bị trúng bom, ông không còn nhớ gì về trận tập kích đó: “Tôi không biết ai đưa mình về bệnh viện, đưa khi nào, bằng cách nào. Chỉ biết là sống rồi, còn sống là mình còn cơ hội đi tiếp!”.

Chỉ vài ngày sau khi được sơ cứu, dù vết thương chưa lành hẳn, ông lại xin lên đường sớm. “Lúc đó, mỗi ngày là một ngày vàng cho cách mạng. Không thể chậm trễ, chậm trễ là tự mình bỏ lỡ thời cơ chiến thắng”. Lần này, ông lái xe theo những con đường mòn mới mở do các cô giao liên dẫn đường - những thiếu nữ vừa rắn rỏi vừa gan dạ đã trở thành một biểu tượng kiên cường của phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh. Trên đường đi ông cũng được các “cô gái đếm bom” giúp đỡ.

Cứ như thế, nhờ được các cô giao liên và các “cô gái đếm bom” dẫn đường, ban ngày đoàn xe ẩn nấp, ban đêm băng qua rừng già, có lúc cả đoàn xe phải dừng lại ngụy trang để không bị địch phát hiện. Những đêm ông và đồng đội ngủ trên cabin xe giữa rừng, nơi tiếng côn trùng và thỉnh thoảng là tiếng rocket réo xa xa đã trở nên quen thuộc “như cơm bữa”.

Sau nhiều ngày hành quân, ông và đồng đội cũng tới được bờ sông Sa Thầy. Ông kể: “Khi đến đó chúng tôi không biết mình đã vào đến đâu. Khi nhận được điện báo từ đơn vị thì chúng tôi mới biết đến sông Sa Thầy, bên kia sông là biên giới Campuchia”.

Ngay sau khi bàn giao hàng hóa tại địa điểm tập kết, ông lại nhận nhiệm vụ mới là chở bộ đội ta từ khu vực biên giới về điểm đánh vào căn cứ Chơn Thành (tỉnh Bình Phước cũ, nay là tỉnh Đồng Nai), La Khê (còn gọi là Lai Khê), Bến Cát (thuộc tỉnh Bình Dương cũ, nay là Thành phố Hồ Chí Minh). Đêm ấy, ông chở bộ đội đến nơi lúc 22 giờ, ông còn nhớ chiếc Zil-157 âm thầm tắt máy và dừng lại bên rừng cao su mịt mùng sương. 23 giờ, bộ đội ta nổ súng. 3 giờ sáng, sau khi trận đánh kết thúc thắng lợi, ông lại thực hiện nhiệm vụ lái xe chở bộ đội quay về.

Trải qua mấy tháng mùa khô, khi miền Nam bước vào mùa mưa cũng là lúc ông và đồng đội hành quân trở ra tỉnh Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) để sửa chữa, bảo dưỡng xe, chuẩn bị bắt đầu mùa vận tải chi viện mới vào mùa khô năm sau. Năm tháng ấy trôi qua như những bánh xe lăn đều, không một giấc ngủ trọn vẹn, không một ngày yên bình nhưng ông và đồng đội chưa từng nghĩ đến việc dừng lại.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn