Người lính năm ấy
Năm 1972, có thể nói là năm bản lề của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Khí thế tuổi trẻ tòng quân sôi sục khắp làng quê. Vừa tròn 18 tuổi, tôi xung phong nhập ngũ.
Chúng tôi rời quê hương Yên Bái để hành quân sang Đại Từ, Bắc Thái luyện quân. Tôi được biên chế vào đại đội thông tin thuộc D.6, E,246 Quân khu Việt Bắc.Ở đó tôi được học chuyên môn thông tin kết hợp với huấn luyện quân sự. Khi đó tình hình chiến sự 2 miền rất ác liệt. Miền Bắc Mỹ đem B.52 rải thảm Hải Phòng, Hà Nội.
Miền Nam ta mở những chiến dịch lớn phối hợp với đàm phán 4 bên ở Pa Ri. Chúng tôi phải tăng cường tiến độ luyện quân để chi viện gấp cho chiến trường miền Nam.
Với phương châm huấn luyện khẩn trương, chất lượng, cũng phải sau 3 tháng cực kỳ khổ luyện bọn tôi mới được ra trường. Sẵn sàng lên đường chi viện chiến trường miền Nam.
Đầu năm 1973, D.6, E.246 nhận lệnh vào Nam chiến đấu tại mặt trận Tây Nguyên. Trung đoàn trưởng là thiếu tá Trần Hùng Vương chỉ huy hành quân. Sau hơn 30 ngày, lúc đi bộ, lúc đi xe chúng tôi mới đến được Binh trạm K.35 thuộc huyện Sa Thầy, Công Tum. Sau mấy ngày làm quen với với không khí chiến trường tôi được biên chế về Binh đoàn Tây Nguyên thuộc C.18, E.28, F.10.
Những năm ở chiến trường Tây nguyên chúng tôi chịu đựng mọi gian khổ, thiếu thốn cả tinh thần và vật chất. Nhưng lúc nào cũng nung nấu ước nguyện sẽ tiến về Sài Gòn, giải phóng miền Nam!
Tháng 2 năm 1975, mặt trận Tây nguyên mở chiến dịch 2/75. E.28 chúng tôi phối thuộc với hỏa lực E.66 tiêu diệt 1 đại đội dã chiến cũng như số hỏa lực phối thuộc của địch, mở đường tiến về Sài Gòn. Ngày 8/3/1975 Chiến dịch Tây Nguyên chính thức bắt đầu. Tư lệnh Quân đoàn Thiếu tướng Vũ Lăng lệnh cho các đợn vị vừa đánh vừa tiến. Chúng tôi đánh địch theo đường 14 và đường 20 qua đèo
Phượng Hoàng. Thế ta đánh địch thắng như chẻ tre. Theo sát mũi tiến công của
Quân đoàn 3 là Đại tướng Vă Tiến Dũng Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Trên đường hành tiến về Sài Gòn, trận đánh tôi nhớ mãi là giải phóng Quân cảng
Cam Ranh. Đây là căn cứ hậu cần lớn nhất của địch ở khu vực duyên hải miền Trung
- Tây Nguyên. Án ngữ bảo vệ quân cảng là căn cứ đồi 828. Từ đây địch khống chế các cánh quân của ta từ cao nguyên trung phần tiến về. Lực lượng địch gồm 1 tiểu đoàn tăng cường và pháo hạm ngoài biển hỗ trợ. Quanh chân đồi toàn là cỏ tranh khô nỏ. Lợi dụng ưu thế này địch địch cho đốt sạch, khiến quả đồi trơ trụi, ta rất khó tiếp cận. Mũi thọc sâu của trung đoàn do đại úy Tiêm, tham mưu trưởng trung đoàn chỉ huy bị địch chống trả quyết liệt. Thông tin bị gián đoạn. Hai đồng chí thông tin hữu tuyến khi đi nối dây bị thương nặng phải đưa về tuyến sau. Lực lượng dự bị phía sau không kịp tiếp ứng. Tuy nhiên chúng tôi vẫn gan góc đánh địch. Sau hơn 3 giờ chiến đấu giằng co, cuối cùng chúng tôi chiếm được đồi 828, diệt gân 200 tên địch, làm chủ tình hình. Chưa kịp nghỉ ngơi, chúng tôi được lệnh theo mũi thọc sâu tiến thẳng về Sài Gòn.
Đó là trận đánh lớn nhất mà tôi được tham gia trong đội hình của E.28, F.10.
Ngày 29/4/1975 đơn vị tập kết tại Tân Sơn Nhì để ngày 30/4 tôi là một trong những chứng nhân lịch sử: chứng kiến Lễ kéo cờ tại Dinh Độc Lập, Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng !
Sau ngày giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước, đơn vị chúng tôi tiếp tục tham gia cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam.
Cuối năm 1977, sau gần 2000 ngày được sống, chiến đấu và rèn luyện trong Quân đội tôi được giải ngũ. Qua chiến tranh khốc liệt tôi may mắn còn sống, về với đời thường. Rồi lấy vợ, làm nhà, sinh con đủ nếp tẻ và tiếp đó có một đàn cháu đầy đủ nội ngoại. Những ngày sum vầy đầm ấm này lại càng nhớ da diết nhiều đồng đội đã mãi mãi không về, hy sinh khi còn rất trẻ! Chúng ta không quên ơn các anh, Tổ quốc đời đời nhớ ơn các Liệt sĩ ! Còn riêng tôi, tôi tự hào đã cống hiến trọn vẹn những năm tháng tuổi trẻ của mình cho đất nước Việt Nam yêu quý !


