NGƯỜI LÍNH NĂM XƯA VÀ NHỮNG NĂM THÁNG KHÔNG THỂ NÀO QUÊN
Thương binh Nguyễn Chung Bình, sinh năm 1963, là người lính từng tình nguyện nhập ngũ năm 1982 và trực tiếp chiến đấu tại chiến trường Campuchia. Trong một lần làm nhiệm vụ, ông bị thương với tỷ lệ thương tật 68%. Trở về đời thường, ông vượt qua thương tật, ổn định cuộc sống, tích cực tham gia công tác Hội Cựu chiến binh và giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ. Câu chuyện là tấm gương về lòng yêu nước, ý chí kiên cường và tinh thần cống hiến của người lính Bộ đội Cụ Hồ.
NGƯỜI LÍNH NĂM XƯA VÀ NHỮNG NĂM THÁNG KHÔNG THỂ NÀO QUÊN
Có những mùa xuân của tuổi trẻ được đánh đổi bằng những năm tháng hành quân. Có những chàng trai vừa rời mái trường đã khoác lên mình màu áo lính, mang theo tình yêu quê hương và một trái tim sẵn sàng cống hiến cho Tổ quốc.
Câu chuyện của thương binh Nguyễn Chung Bình là một câu chuyện như thế.
Sinh ra trong một gia đình có truyền thống cách mạng, từ nhỏ, Nguyễn Chung Bình đã được nuôi dưỡng bằng những câu chuyện về quê hương, về đất nước và về sự hy sinh của các thế hệ cha anh. Tháng 9 năm 1982, sau khi học xong chương trình lớp 9, chàng thanh niên trẻ đã tình nguyện lên đường nhập ngũ.
Khi ấy, tuổi đời còn rất trẻ. Phía trước là biết bao ước mơ của tuổi thanh xuân, nhưng cũng là tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc.
Sau thời gian huấn luyện, người lính trẻ Nguyễn Chung Bình được biên chế về đơn vị cơ động thuộc Quân khu 9, Trung đoàn E501, Sư đoàn F388 và trực tiếp tham gia chiến đấu trên chiến trường Campuchia, tại địa bàn tỉnh Bát Tam Băng.
Những năm 1983 - 1985, chiến trường K là những tháng ngày đầy gian khổ và hiểm nguy. Những người lính trẻ phải hành quân giữa nơi đất khách, đối mặt với bom đạn, với những thiếu thốn và cả những hiểm nguy luôn cận kề.
Trong một lần làm nhiệm vụ tiếp viện cho đơn vị, người lính Nguyễn Chung Bình đã bị thương.
Vết thương của chiến tranh để lại trên cơ thể người lính trẻ một thương tật suốt đời. Sau thời gian điều trị và phục hồi sức khỏe tại Đoàn 44, Quân khu 9, ông trở về quê hương với tỷ lệ thương tật 68%, là thương binh hạng 2/4.
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng có lẽ với những người từng đi qua những năm tháng ấy, ký ức về đồng đội, về những cuộc hành quân và những lần đối mặt với lằn ranh sinh tử sẽ không bao giờ phai mờ.
Trở về với cuộc sống đời thường, mang trên mình những thương tật do chiến tranh để lại, nhưng người lính năm xưa không chọn cách đầu hàng trước khó khăn.
Năm 1986, ông tiếp tục học bổ túc văn hóa tại Trường Võ Thị Sáu, Châu Đốc. Năm 1987, ông lập gia đình, tự học nghề, lao động và từng bước xây dựng cuộc sống.
Vẫn là tinh thần của người lính năm nào.
Không lùi bước.
Không đầu hàng.
Không để những vết thương của chiến tranh trở thành lý do để mình sống một cuộc đời buông xuôi.
Ông tiếp tục tham gia các hoạt động tại địa phương, gắn bó với Hội Cựu chiến binh và đảm nhiệm vai trò Chi hội phó Chi hội Cựu chiến binh Khóm Đông An 6. Với ông, khi tiếng súng đã ngừng, người lính vẫn còn một nhiệm vụ khác: góp phần xây dựng quê hương và truyền lại ngọn lửa truyền thống cho thế hệ trẻ.
Những năm tháng cống hiến ấy đã được ghi nhận bằng nhiều phần thưởng cao quý: Bằng khen của Bộ Quốc phòng, Huân chương Vì nghĩa vụ quốc tế, Huân chương Hữu nghị, Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Kỷ niệm chương Cựu chiến binh cùng nhiều giấy khen của địa phương.
Nhưng có lẽ, phần thưởng lớn nhất đối với người lính năm xưa chính là được trở về trong hòa bình.
Được nhìn thấy quê hương đổi thay.
Được sống giữa những ngày đất nước không còn tiếng súng.
Được chứng kiến những thế hệ trẻ hôm nay lớn lên trong hòa bình mà biết rằng, để có được những ngày bình yên ấy, đã có biết bao người trẻ của một thời gác lại ước mơ riêng, sẵn sàng lên đường.
Hôm nay, khi tuổi đã cao và sức khỏe không còn như trước, người thương binh Nguyễn Chung Bình vẫn giữ tinh thần lạc quan của người lính Bộ đội Cụ Hồ. Những vết thương trên cơ thể có thể nhắc ông về chiến tranh, nhưng không thể làm phai mờ ý chí và niềm tin của người chiến sĩ năm nào.
Câu chuyện của ông là một lát cắt nhỏ trong biết bao câu chuyện của một thế hệ thanh niên Việt Nam đã sống và cống hiến trong những năm tháng đầy khói lửa.
Họ đã từng trẻ.
Họ cũng từng có những ước mơ rất bình dị.
Nhưng khi Tổ quốc cần, họ sẵn sàng khoác ba lô lên đường.
Và tuổi thanh xuân của họ đã trở thành một phần của lịch sử.
“Câu chuyện thời hoa lửa” không chỉ là câu chuyện của quá khứ. Đó còn là lời nhắc nhở đối với thế hệ trẻ hôm nay: Hòa bình mà chúng ta đang có không phải tự nhiên mà có. Đằng sau những ngày tháng bình yên là tuổi xuân, là máu và cả những phần đời còn dang dở của biết bao thế hệ cha anh.
Xin được cúi đầu tri ân những người lính năm xưa.
Và xin được gìn giữ, tiếp nối ngọn lửa của lòng yêu nước, của tinh thần cống hiến và trách nhiệm mà các thế hệ đi trước đã trao lại cho chúng ta.
Bởi có những câu chuyện, dù năm tháng trôi qua, vẫn cần được kể mãi… để thế hệ hôm nay hiểu hơn giá trị của hòa bình và biết trân trọng những gì mình đang có.


