Bài viết

Người lính Thủ đô và mảnh áo chăn ấm tình đồng chí giữa mùa đông Việt Bắc

Ninh Bình22/10/2026Đoàn phường Tân Thuận (Phường Tân Thuận)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong muôn vàn trang sử vàng chói lọi của "kỷ nguyên hoa lửa", cuộc kháng chiến chống Pháp trường kỳ của dân tộc đã khắc họa nên hình ảnh những người lính Bộ đội Cụ Hồ vô cùng bình dị mà quật cường. Họ là những thanh niên trí thức gác lại mái trường, phố xá để dấn thân vào miền gian khổ, biến lòng yêu nước thành sức mạnh vượt qua đói rét và bom đạn. Trong số những thi sĩ - chiến sĩ tiêu biểu của thời kỳ ấy, nhà thơ Chính Hữu (tên thật là Trần Đình Tấn) nổi bật với tư cách là một người lính trực tiếp cầm súng chiến đấu từ những ngày đầu Hà Nội rực lửa cho đến chiến khu Việt Bắc. Câu chuyện lịch sử có thật về những ngày đông rét buốt năm 1947 và tình đồng chí keo sơn giữa ông với người lính nông dân nơi chiến trường đã trở thành một bài học nhân văn sâu sắc, cảm động về tình đồng đội và sức mạnh đoàn kết dân tộc.

Đầu năm 1947, sau sáu mươi ngày đêm kiên cường bám trụ chiến đấu bảo vệ Thủ đô Hà Nội "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh", Trung đoàn Thủ đô (Trung đoàn 102) thực hiện cuộc rút quân thần kỳ qua sông Hồng để trở về chiến khu Việt Bắc tiếp tục cuộc kháng chiến lâu dài. Chính Hữu khi ấy mới 21 tuổi, vốn là một thanh niên trí thức thành thị tốt nghiệp Bút nghệ (Tú tài), đã tình nguyện gia nhập Tự vệ chiến đấu rồi trở thành Chính trị viên đại đội của Trung đoàn Thủ đô. Cuối năm 1947, thực dân Pháp mở Chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông tấn công quy mô lớn lên căn cứ địa cách mạng nhằm tiêu diệt cơ quan đầu não và lực lượng chủ lực của ta. Trung đoàn của Chính Hữu nhận lệnh tham gia Chiến dịch Thu - Đông 1947, trực tiếp phục kích, chặn đánh các đoàn xe và cánh quân của địch trên con đường Bông Lau - Lũng Phầy và vùng rừng núi Cao - Bắc - Lạng.

Thời điểm ấy, hoàn cảnh chiến đấu của quân ta gian khổ và thiếu thốn đến mức vô cùng nghiệt nga. Giữa cái lạnh giá như cắt da cắt thịt của mùa đông miền núi phía Bắc, những người lính cách mạng hầu như không có đủ trang phục ấm. Người lính xuất thân từ trí thức Hà Nội như Chính Hữu hay những người lính xuất thân từ nông dân nghèo khó quanh năm "cày đồng đang buổi giữa trưa" đều khoác trên mình những chiếc áo vải mỏng đã rách sút chỉ. Nhiều người không có giày dép, phải đi chân đất bám đá núi nhọn sắc, đầu không mũ, lưng không chăn. Gian khổ tột cùng còn nhân lên khi căn bệnh sốt xuất huyết và sốt rét rừng hoành hành dữ dội. Những cơn sốt giật làm người lính run cầm cập giữa rừng già, trán nóng hổi nhưng toàn thân lạnh buốt, tóc rụng dần vì thiếu thuốc men và dinh dưỡng.

Trong một trận phục kích gian khổ giữa rừng sâu Việt Bắc mùa đông năm 1947, Chính Hữu bất ngờ bị một cơn sốt rét rừng ác tính quật ngã. Giữa đêm đông lạnh giá, cơ thể ông run lên từng hồi, hơi thở thều thào, mồ hôi đầm đìa rồi nhanh chóng lịm đi trong cơn mê man. Quân y viện chiến dịch thời đó ở rất xa và thiếu thốn vật tư y tế, việc điều trị chủ yếu dựa vào sự chăm sóc của đồng đội. Lúc ấy, một người lính nông dân trong đại đội – người đồng đội vốn dĩ rất mộc mạc, ít nói, người hằng ngày vẫn cùng Chính Hữu chia nhau từng củ sắn lùi, từng ngụm nước suối – đã không ngần ngại nhường chiếc chăn bông duy nhất của mình cho ông.

Người chiến sĩ nông dân ấy lặng lẽ đắp cẩn thận chiếc chăn mỏng lên người Chính Hữu, rồi ngồi thức suốt đêm bên cạnh. Anh liên tục xoa tay, quạt ấm và dùng những mảnh áo rách còn lại của mình để che chắn gió lùa cho người chính trị viên trẻ. Khi Chính Hữu tỉnh lại giữa đêm khuya, qua ánh lửa bập bùng chập chờn, ông nhìn thấy người đồng đội của mình đang co ro trong chiếc áo trấn thủ rách vai, hai hàm răng đập vào nhau cộp cộp vì cái lạnh của sương núi, nhưng đôi mắt vẫn ánh lên sự lo lắng chân thành dành cho ông. Giữa hai con người ấy, một người là trí thức Hà thành quen chăn êm nệm ấm, một người là nông dân chân đất quen đồng ruộng bãi bồi, không hề có khoảng cách hay sự phân biệt. Sự sống và hơi ấm họ dành cho nhau trong khoảnh khắc sinh tử ấy chính là sự kết tinh cao đẹp nhất của tình chí thiết, tình đồng chí.

Đứng dậy sau cơn sốt rét nghìn trùng ấy nhờ sự đùm bọc của đồng đội, Chính Hữu xúc động sâu sắc. Ông nhận ra rằng, sức mạnh lớn nhất giúp quân đội ta đứng vững và chiến thắng kẻ thù gian ác không chỉ là vũ khí đạn dược, mà chính là tình thương yêu giai cấp, tình đồng đội thiêng liêng, bình dị mà bền chặt. Đầu năm 1948, tại chiến khu Việt Bắc, trên một trang sổ tay hậu cần còn vệt bùn đất chiến trường, Chính Hữu đã chép nên những dòng thơ bất hủ trong bài thơ "Đồng chí": "Áo anh rách vai / Quần tôi có vài mảnh vá / Nụ cười sơn cước ân tình / Đêm nay rừng sương muối / Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới / Đầu súng trăng treo". Bài thơ không chỉ là một tác phẩm văn học xuất sắc mà còn là một văn bản lịch sử chân thực ghi lại tấm lòng và sự hy sinh cao đẹp của người lính Bộ đội Cụ Hồ.

Câu chuyện lịch sử có thật về nhà thơ Chính Hữu và người đồng đội nông dân giữa mùa đông Việt Bắc năm 1947 để lại những bài học vô cùng ý nghĩa và sâu sắc cho thế hệ hôm nay và mai sau.

Trước hết, đó là bài học vô giá về sức mạnh của sự đoàn kết và tình thương yêu con người. Sự gắn kết giữa người trí thức và người nông dân trong quân đội cách mạng đã chứng minh rằng: Khi con người biết gạt bỏ những khác biệt cá nhân, biết sẻ chia từng mảnh áo, từng miếng ăn trong hoàn cảnh gian khổ nhất, họ sẽ tạo nên một sức mạnh vô địch vượt qua mọi giông bão. Ý nghĩa hành động của các cụ thời hoa lửa chính là bài học về lòng nhân ái, sự vị tha và trách nhiệm đối với đồng đội, đối với nhân dân.

Thứ hai, câu chuyện truyền tải bài học về tinh thần vượt khó và lòng yêu nước dấn thân. Lớp thanh niên thời ấy đã không quản ngại gian khổ, thiếu thốn hay ranh giới giữa sống và chết để chiến đấu cho độc lập, tự do của dân tộc. Sự hy sinh thầm lặng nhưng vĩ đại của họ dạy cho tuổi trẻ hôm nay hiểu rằng giá trị của hòa bình được đánh đổi bằng xương máu và giọt mồ hôi của bao thế hệ đi trước, từ đó biết trân trọng cuộc sống hiện tại và sống có lý tưởng, có cống hiến.

Chiến tranh đã lùi xa vào quá khứ, những người lính năm xưa giờ đây hầu như đã trở thành người hiền sâu trong lòng đất mẹ. Thế nhưng, ngọn lửa của tình "Đồng chí", của sự sẻ chia và lòng dũng cảm mà Chính Hữu cùng thế hệ cha anh để lại vẫn luôn cháy sáng. Tấm gương ấy sẽ mãi là điểm tựa tinh thần vững chắc, nhắc nhở thế hệ hôm nay và mai sau phải luôn sống trọn vẹn với đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", tiếp bước truyền thống cha anh để xây dựng một đất nước Việt Nam giàu mạnh, văn minh và nhân ái.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn