Bài viết

NGƯỜI LÍNH TRẬN NĂM XƯA

Bác sinh ngày 22 tháng 11 năm 1948 tại thôn Quan Sơn, xã An Sơn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, nay là thôn Quan Sơn, xã Thái Tân, Thành phố Hải Phòng, lớn lên trong những năm đất nước chìm trong khói lửa chiến tranh.

Hải Phòng10/11/2025Nguyễn Minh Hoàng (Đoàn xã Thái Tân)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
NGƯỜI LÍNH TRẬN NĂM XƯA

NGƯỜI LÍNH TRẬN NĂM XƯA

(Ký ức một thời hoa lửa của trung tá Phạm Văn Cứu)

Tôi được trò chuyện với bác Phạm Văn Cứu, một người lính già năm xưa, nay đã bẩy mươi bẩy tuổi đời, với năm mươi bẩy năm tuổi Đảng. Vầng trán bác đã hằn sâu dấu thời gian, nhưng trong mắt vẫn ánh lên nét kiên cường của người lính trận, từng trải qua những năm tháng khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, và bảo vệ Tổ quốc.

Ngồi bên ấm trà, bác kể cho tôi nghe về cuộc đời binh nghiệp của mình, một chặng đường dài gắn liền với lịch sử hào hùng của dân tộc.

Bác sinh ngày 22 tháng 11 năm 1948 tại thôn Quan Sơn, xã An Sơn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, nay là thôn Quan Sơn, xã Thái Tân, Thành phố Hải Phòng, lớn lên trong những năm đất nước chìm trong khói lửa chiến tranh. Theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc và của Đảng, ngày 05 tháng 01 năm 1967, chàng trai trẻ Phạm Văn Cứu hăng hái lên đường nhập ngũ, trở thành chiến sỹ của đơn vị D14, E3, F338 huấn luyện tại Thanh Hoá. Chỉ ba tháng sau, khi vừa kết thúc khoá huấn luyện, bác cùng đồng đội hành quân bộ vượt dãy Trường Sơn vào chiến trường miền Nam, nơi khốc liệt nhất của cuộc chiến.

Tại chiến trường Quân khu 5, bác được biên chế vào C1, D14, F2 trực tiếp chiến đấu ở vùng Quảng Nam, đây là một trong những địa bàn ác liệt nhất thời bấy giờ. Từ cuối năm 1967 đến ngày đất nước giải phóng 1975, bác đã tham gia hàng trăm trận đánh lớn nhỏ, góp phần vào những chiến công chung của đơn vị, cũng như quân và dân ta.

Nhắc lại những năm tháng ấy, giọng bác trầm xuống: “Chiến tranh gian khổ lắm, bom đạn như mưa, đồng đội ngã xuống nhiều lắm, nhưng ai cũng chỉ nghĩ làm sao đánh thắng giặc, giành độc lập cho Tổ quốc.”

Bác kể rằng, ngày 19 tháng 9 năm 1968, giữa chiến trường Quảng Nam, bác được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam, một vinh dự thiêng liêng mà suốt đời bác ghi nhớ.

Trong suốt chặng đường chiến đấu, có hai kỷ niệm đã khắc sâu trong ký ức người lính Phạm Văn Cứu.

Lần thứ nhất là chống lại “Chiến dịch Lam Sơn 719” của Quân đội Việt Nam Cộng hoà, hay còn gọi là Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (tỉnh Savannakhet, Lào)”, diễn ra từ ngày 08/02 đến ngày 25/3/1971. Với mục tiêu của địch là đánh chiếm các trạm, phá hoại cầu, đường nhằm cắt đứt tuyến vận chuyển chiến lược Trường Sơn (đường mòn Hồ Chí Minh) của quân giải phóng miền Nam Việt Nam.

Mục tiêu sâu mà chúng chiếm là thị xã Tchepone (Sepon), một điểm trung chuyển quan trọng trên tuyến đường này. Lực lượng tham chiến quân đội Việt Nam Cộng hoà hai sư đoàn, và một số trung đoàn, tiểu đoàn đặc nhiệm, với quân số khoảng trên 30.000 quân, vũ khí máy bay, xe tăng, bộ binh cơ giới, đặc biệt có cả máy bay B52. Đối với lực lượng của ta gồm hai binh đoàn, sáu sư đoàn và các trung đoàn cao xạ, pháo binh, xe tăng, đặc công, quân số khoảng 60.000 người. Kết quả sau gần hai tháng chiến đấu, có những vị trí đặc biệt như trận đánh ở bản Đông quân địch thiệt hại nặng lề, buộc chúng phải ra hàng, quân Việt Nam Cộng hoà thất bại hoàn toàn rút lui trong hỗn loạn, quân giải phóng của chúng ta thắng lợi giòn dã, bảo vệ vững chắc tuyến đường vận tải Trường Sơn. Trong chiến dịch này bác Phạm Văn Cứu vinh dự được tặng danh hiệu “Dũng sĩ diệt máy bay”.

Lần thứ hai, mà bác cũng không thể nào quên là “Chiến dịch Quảng Ngãi – Sa Huỳnh”, diễn ra trong hai ngày 23/3 đến ngày 24/3/1975, mục đích án ngữ cửa ngõ phía nam Quảng Ngãi, điểm chiến lược là Quốc lộ 1A và đường sắt Bắc Nam, cắt đứt đường rút của Quân lực Việt nam Cộng hoà từ Quảng Ngãi, Bình Định vào phía Nam, tạo bàn đạp cho Chiến dịch giải phóng Đà Nẵng và Chiến dịch Hồ Chí Minh. Lực lượng của ta tham gia gồm sư đoàn 2, trung đoàn 52, tiểu đoàn 409, và bộ đội địa phương. Đêm ngày 23/3/1975 Quân Giải phóng đồng loạt tiến vào căn cứ Sa Huỳnh, cửa biển Sa Huỳnh và các đồn bốt ven Quốc lộ 1A. Đến rạng sáng ngày 24/3/1975, sau hơn 10 tiếng chiến đấu toàn bộ Sa Huỳnh được giả phóng. Đến ngày 25/3/1975 toàn bộ tỉnh Quảng Ngãi được giải phóng, hàng nghìn quân địch bị bắt và đầu hàng. Đây là bước mở màn cho chiến dịch Huế - Đà Nẵng và tiến tới giải phóng hoàn toàn miến Nam vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Bác gọi đó là “mùa xuân đẹp nhất của đời người lính.”

Sau ngày đất nước thống nhất, bác được nghỉ phép về quê thăm gia đình, và cưới vợ, rồi trở lại đơn vị tiếp tục công tác. Trên cương vị là người sĩ quan cấp bậc trung uý, chức vụ Chính trị viên đại đội, tháng 5 năm 1978 bác cùng đơn vị được điều động di chuyển theo đường 19 kéo dài về khu vực Bến Sỏi – Tây Ninh, thay cho đơn vị Quân khu 9. Khi chiến tranh biên giới Tây Nam bùng nổ, bác lại một lần nữa xông pha chiến đấu cho đến ngày Căm Phu Chia được giải phóng (07/01/1979).

Chưa kịp nghỉ ngơi, đến tháng 02 năm 1979 chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra, bác được điều chuyển từ Quân khu 5 về Quân khu 3, tiếp tục tham gia chiến đấu trong đội hình của sư đoàn 319. Sau này do yêu cầu nhiệm vụ, sư đoàn 319 chuyển sang làm nhiệm vụ xây dựng nhà máy nhiệt điện Phả Lại, người lính Phạm Văn Cứu lại hăng hái nhận nhiệm vụ mới. Trong quá trình công tác bác được lần lượt trải qua nhiều chức vụ, và đến chức vụ Phó Trung đoàn trưởng về chính trị (nay là Chính uỷ Trung đoàn), góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước thời bình.

Đến tháng 11 năm 1989, bác được Quân đội cho nghỉ hưu với quân hàm trung tá, khép lại một chặng đường dài binh nghiệp đầy vinh quang và cống hiến.

Giờ đây, ở tuổi 77, bác sống an vui bên con cháu, vẫn giữ được tinh thần của người lính Cụ Hồ giản dị, khiêm nhường mà kiên trung. Phát huy truyền thống của gia đình bố bác cũng là Đảng viên, bị địch bắt tù đầy, con trai cũng tham gia Quân đội hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tích cực tham gia sinh hoạt Đảng, đoàn thể tại địa phương. Nhắc đến những đồng đội năm xưa, bác nghẹn ngào xúc động: “Nhiều anh em cùng đi, giờ mãi mãi không trở về … Mỗi lần nhớ đến họ, tôi lại tự nhủ mình phải sống xứng đáng với những người đã nằm lại ở chiến trường.”

Tôi rời nhà bác khi chiều muộn, trên con đường 390D rợp bóng phi lao, lời bác vẫn vang vọng trong tâm trí “Còn sức là còn cống hiến cho Đảng, cho dân”, một lời nhắc nhở giản dị mà thiêng liêng.

Cuộc đời và sự nghiệp của trung tá Phạm Văn Cứu là tấm gương sáng về lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với nhân dân, là hình ảnh tiêu biểu của người lính Cụ Hồ trong thời chiến cũng như thời bình, một người lính suốt đời vì Tổ quốc, vì nhân dân.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
NGƯỜI LÍNH TRẬN NĂM XƯA | Câu chuyện thời hoa lửa