Anh hùng Lực lượng vũ trang

NGƯỜI LÍNH TRẺ TUỔI CỦA MẢNH ĐẤT HOA PHƯỢNG ĐỎ- LÊ VĂN NHẪN

NGƯỜI LÍNH TRẺ TUỔI CỦA MẢNH ĐẤT HOA PHƯỢNG ĐỎ- LÊ VĂN NHẪN

Hải Phòng29/03/2026Nguyễn Thuỳ Dương (Trường Đại Học Hải Dương)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tôi luôn tin vào câu nói: “Thời gian là sự chảy trôi của nhân loại”- thời gian có lẽ là thứ quý giá nhất đối với con người, thời gian là thước đo là khoảng lặng là sự tồn tại của vạn vật.Thời gian không chờ đợi bất kì ai, chi bằng ta sống trọn vẹn mỗi giây mỗi phút, biết trân trọng hiện tại thì cuộc sống sẽ trở nên ý nghĩa hơn.Thời gian là sự chảy trôi cũng là cỗ máy đi ngược về những kí ức ở trong quá khứ, nơi chứa đựng những nỗi đau mất mát sự hi sinh của thế hệ đi trước.Trầm ngâm một lúc về chuyện đời, tôi bỗng muốn lật lại những trang sử hào hùng mùa hoa lửa năm 1972- để hồi tưởng lại đoá hoa bất tử Lê Văn Nhẫn.

“Thời hoa lửa” là giai đoạn tuổi trẻ gác lại bút nghiên, sách vở, trường lớp để dấn thân vào nơi hòn tên mũi đạn.Trong dòng chảy lịch sử đầy hào hùng ấy, cái tên Lê Văn Nhẫn đã trở thành một biểu tượng sáng ngời của tuổi trẻ cống hiến của hình ảnh người lính trẻ tuổi kiên cường tại chiến trường Quảng Trị 81 ngày đêm.

Lê Văn Nhẫn sinh ngày 6 tháng 10 năm 1948,tại mảnh đất Đông Nam, phường Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.Tôi khá bất ngờ và ngưỡng mộ bởi tinh thần thép đầy quả cảm của ông, khi mà các bạn đồng trang lứa vẫn đang cắp sách tới trường, vẫn đang mơ mộng về những tương lai sáng ngời phía trước thì ông đã xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ vào 14/9/2965-khi ấy ông mới là cậu trai 17 tuổi.Cuộc đời ông từ đó gắn liền với màu áo xanh, gắn với những khát vọng hoà bình và gắn với một trái tim rực lửa trong chính con người ông.

Chưa tròn ba tháng trong quân ngũ, ông đã bước vào trận đánh đầu tiên – đêm 21 rạng sáng 22 tháng 12 năm 1965. Nhà máy Nhiệt điện Uông Bí, trái tim năng lượng của miền Bắc, trở thành mục tiêu ném bom của Mỹ. Ông là trắc thủ máy đo xa thuộc Đại đội 6, Trung đoàn 243, Sư đoàn 363 phòng không – không quân. Dưới mưa bom rải thảm, đất trời rung chuyển, khẩu pháo cao xạ 37 ly của đơn vị vẫn rền vang từng nhịp đạn. Một quả bom rơi cách trận địa không xa, hất tung cả tiểu đội. Đại đội phó hy sinh ngay bên cạnh, còn ông, trong khói lửa mịt mù, vẫn bám máy ngắm, đo tầm, truyền lệnh bắn. Đêm ấy, tên lửa ta bắn rơi máy bay Mỹ, bảo vệ được nhà máy – nhưng 60 đồng đội đã ngã xuống hoặc bị thương. Giữa mùi thuốc súng và khói cháy, ông biết rằng: tuổi trẻ của mình sẽ gắn liền với máu và nước mắt.

Từ năm 1968, ông được điều về sân bay Kiến An – một trong những căn cứ phòng không trọng yếu của Hải Phòng. Ngày nào cũng là một cuộc đua với thần chết: phát hiện, ngắm bắn, tránh bom. Có những đêm, máy bay không người lái Mỹ bay thấp như lưỡi dao cắt ngang bầu trời, cả đại đội thức trắng để bảo vệ từng dãy nhà, từng đường băng. Đó là quãng thời gian rèn ông thành một người lính dày dạn, bình tĩnh giữa khói lửa, gan góc giữa ranh giới sống – chết.

Năm 1971, đơn vị ông hành quân vào Nghệ An, bảo vệ sân bay Anh Sơn – sân bay tiêm kích dã chiến để chi viện cho nước bạn Lào. Mỗi lần còi báo động vang lên, ông cùng đồng đội lao vào vị trí chiến đấu, ngẩng mặt nhìn máy bay địch bổ nhào thả bom bi. Đường băng tan nát, khói lửa mịt mù, nhưng từng người lính vẫn bám trụ để bảo vệ sân bay. Ông kể, “bom bi rơi xuống như mạ”, chỉ cần một viên nổ cũng đủ cướp đi cả tiểu đội.

Cuối năm 1971, ông lại khoác ba lô hành quân vào Quảng Bình, bảo vệ đường 15A và bến phà Long Đại, sát Vĩnh Linh. Đây là huyết mạch nối hậu phương miền Bắc với chiến trường miền Nam. Những chuyến xe chở hàng, chở vũ khí nối đuôi nhau trong đêm, vượt qua ánh đạn lửa trời. Còn những người lính phòng không như ông, ngày đêm chốt chặn, mắt không rời bầu trời đen kịt. Đồng đội ngã xuống bên vai, máu hòa cùng đất đỏ Trường Sơn. Năm 1972, ông cùng đơn vị tiến vào Thừa Thiên – Huế, bảo vệ sân bay A Sầu – A Lưới, chuẩn bị cho chiến dịch giải phóng cố đô. Nhưng ở đó, một loại bom khác chờ họ – bom hóa học. Rừng cây cháy rụi, suối cạn khô, nước uống cũng ngấm độc. Người nào cũng xanh xao, mắc sốt rét, da nổi mẩn.

​Sự hy sinh và cống hiến của ông đã góp phần viết nên khúc tráng ca bất tử bên dòng sông Thạch Hãn. Máu của những người anh hùng như Lê Văn Nhẫn đã hòa vào đất mẹ, để những mầm xanh hòa bình được nảy nở trên mảnh đất Quảng Trị nắng cháy.

​"Đò lên Thạch Hãn ơi... chèo nhẹ

Đáy sông còn đó bạn tôi nằm

Có tuổi hai mươi thành sóng nước

Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm"

Đọc lại những trang sử đầy bi tráng của một thời hoa lửa 1972, tôi cảm thêm khâm phục tinh thần kiên cường dũng cảm của những người chiến sĩ năm ấy, đặc biệt là Lê Văn Nhẫn- người con Hải Phòng đầy dũng khí ngút trời.Gấp lại trang sử, tôi ngậm ngùi tự nhủ với lòng mình rằng:Là thế hệ trẻ, được kế thừa những thành quả xương máu của cha ông, mỗi người cần có ý thức trân trọng và phát huy những giá trị ấy cho hiện tại, khiến quá khứ và hiện tại có sự liên kết, trở thành sợi dây kết nối giữa hai thế hệ tạo sự gắn kết trong tim.Từ đó, làm động lực để phát triển bản thân và góp ích cho xã hội.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn