Anh hùng Lực lượng vũ trang

Người lính trẻ và lời thề giữ nước

Những năm ấy, Trọng vừa bước sang tuổi mười bảy. Anh đã rời xóm Việt kiều nghèo bên dòng Mê Kông để tham gia hoạt động cách mạng. Cuộc sống của người thanh niên trẻ vô cùng gian khổ: đi lại bí mật, ăn uống thiếu thốn, đêm ngủ nhờ nhà dân hoặc trên những chiếc xuồng nhỏ giữa đồng nước. Một buổi chiều cuối mùa mưa, đơn vị dừng chân ở một vùng quê heo hút. Sau bữa cơm đạm bạc chỉ có cơm nguội và ít cá khô, mọi người ngồi quanh bếp lửa nhỏ. Một đồng chí lớn tuổi hỏi: “Các em còn trẻ như vậy, có khi nào nghĩ đến cuộc sống yên ổn không?” Có người cười, có người im lặng. Riêng Trọng nhìn ngọn lửa bập bùng rồi đáp: “Ai cũng muốn yên ổn. Nhưng nếu nước mất thì sự yên ổn ấy có còn thật không anh?”

Đồng Tháp11/08/2026Xã Hữu Kiệm (Đoàn xã Hữu Kiệm)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Người lính trẻ và lời thề giữ nước

Những năm ấy, Trọng vừa bước sang tuổi mười bảy. Anh đã rời xóm Việt kiều nghèo bên dòng Mê Kông để tham gia hoạt động cách mạng. Cuộc sống của người thanh niên trẻ vô cùng gian khổ: đi lại bí mật, ăn uống thiếu thốn, đêm ngủ nhờ nhà dân hoặc trên những chiếc xuồng nhỏ giữa đồng nước.

Một buổi chiều cuối mùa mưa, đơn vị dừng chân ở một vùng quê heo hút. Sau bữa cơm đạm bạc chỉ có cơm nguội và ít cá khô, mọi người ngồi quanh bếp lửa nhỏ. Một đồng chí lớn tuổi hỏi:

“Các em còn trẻ như vậy, có khi nào nghĩ đến cuộc sống yên ổn không?”

Có người cười, có người im lặng. Riêng Trọng nhìn ngọn lửa bập bùng rồi đáp:

“Ai cũng muốn yên ổn. Nhưng nếu nước mất thì sự yên ổn ấy có còn thật không anh?”

Câu nói khiến cả vòng người lặng đi.

Đêm hôm đó, mưa đã tạnh. Bầu trời đầy sao. Người chỉ huy lấy trong túi ra một lá cờ nhỏ đã cũ, màu đỏ sẫm vì thời gian. Ông đặt lá cờ giữa mọi người và nói:

“Chúng ta nghèo, ít vũ khí, đường đi còn dài. Có thể nhiều người sẽ không kịp thấy ngày đất nước tự do. Nhưng đã đi theo con đường này thì phải giữ trọn lời thề với Tổ quốc.”

Từng người lần lượt đặt tay lên lá cờ.

Khi đến lượt mình, Nguyễn Văn Trọng đặt bàn tay gầy nhưng rất chắc lên mặt vải. Anh không nói to như những người khác. Giọng anh trầm và rõ:

“Tôi xin giữ lòng trung thành với Tổ quốc Việt Nam. Dù gian khổ, tù đày hay hy sinh, cũng không phản bội đồng bào mình.”

Một cơn gió nhẹ thổi qua, làm ngọn lửa nghiêng đi.

Tôi được nghe kể rằng sau lời thề ấy, Trọng ngồi rất lâu bên bếp than đã tàn. Một người bạn hỏi nhỏ:

“Cậu nghĩ gì vậy?”

Anh đáp:

“Tớ nghĩ đến cha mẹ. Nếu một ngày tớ không trở về, mong họ hiểu vì sao tớ ra đi.”

Người bạn không biết nói gì, chỉ lặng lẽ ngồi cạnh anh.

Những ngày sau đó, công việc càng nguy hiểm hơn. Trọng thường được giao liên lạc, chuyển tài liệu, đưa đón cán bộ. Có lần phải đi suốt đêm dưới mưa, chân phồng rộp vì đường bùn lầy. Đồng đội bảo nghỉ một lát, anh chỉ cười:

“Mệt thì nghỉ được, việc nước không thể chậm.”

Điều khiến mọi người kính phục là anh chưa bao giờ nhận mình là người dũng cảm. Anh sợ bị bắt, sợ đồng đội gặp nguy hiểm, sợ cha mẹ phải đau lòng. Nhưng anh không để nỗi sợ làm mình lùi bước.

Một cụ già từng che giấu các thanh niên cách mạng kể với tôi rằng trước khi rời nhà cụ, Trọng lễ phép nói:

“Chúng cháu còn trẻ, chưa làm được gì nhiều cho dân.”

Cụ nhìn anh rồi đáp:

“Biết lo cho dân như thế đã là điều quý rồi.”

Nhiều năm sau, khi nhớ lại chàng trai trẻ ấy, những người đồng đội cũ thường nói rằng lời thề đêm hôm đó không phải lời nói nhất thời của tuổi trẻ. Nó là kết tinh của cả một tuổi thơ nghe chuyện mất nước, của những năm sống lưu vong, của tình yêu quê hương được nuôi dưỡng từ tiếng mẹ đẻ và những câu chuyện về Việt Nam.

Mỗi lần viết lại câu chuyện này, tôi luôn hình dung bếp lửa nhỏ giữa đêm mưa, lá cờ cũ đặt trên nền đất và bàn tay gầy của người thanh niên mười bảy tuổi đang đặt lên đó.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Người lính trẻ và lời thề giữ nước | Câu chuyện thời hoa lửa