NGƯỜI LÍNH TRINH SÁT GIỮA MÙA HÈ ĐỎ LỬA QUẢNG TRỊ
NGƯỜI LÍNH TRINH SÁT GIỮA MÙA HÈ ĐỎ LỬA QUẢNG TRỊ
Ông Nguyễn Văn Trường sinh năm 1951 tại xã Ninh Cường. Tuổi thơ của ông lớn lên trong những năm tháng đất nước còn chìm trong khói lửa chiến tranh. Những buổi chiều theo mẹ ra đồng, cậu bé Trường thường nhìn thấy từng đoàn bộ đội hành quân qua làng, trên vai là ba lô bạc màu và ánh mắt đầy quyết tâm. Hình ảnh ấy đã in sâu vào tâm trí ông từ thuở thiếu thời. Năm 1970, khi vừa tròn 19 tuổi, ông viết đơn tình nguyện nhập ngũ. Ngày lên đường, mẹ ông chỉ kịp dúi vào tay con trai một chiếc khăn tay tự may và dặn:
“Đi bộ đội phải sống cho xứng đáng với quê hương con nhé.” Sau ba tháng huấn luyện tại đơn vị tân binh, ông được biên chế vào lực lượng trinh sát thuộc một đơn vị chủ lực hành quân vào chiến trường Quảng Trị. Đây là nơi diễn ra những trận chiến khốc liệt nhất trong những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ông kể rằng công việc của người lính trinh sát vô cùng nguy hiểm. Họ phải bí mật tiếp cận trận địa đối phương để nắm tình hình, xác định vị trí hỏa lực và dẫn đường cho các đơn vị chiến đấu. “Lính trinh sát đi trước, nhiều khi chỉ cách địch vài chục mét,” ông nhớ lại. Những ngày đầu ở chiến trường Quảng Trị, điều khiến ông ám ảnh nhất là tiếng pháo. Pháo địch gần như nổ suốt ngày đêm, mặt đất rung chuyển liên tục. Nhiều khu vực cây cối bị bom cày nát, khói bụi phủ kín cả bầu trời. Mùa hè năm 1972, đơn vị ông tham gia chiến đấu bảo vệ một cao điểm quan trọng gần Thành cổ Quảng Trị. Đêm trước trận đánh, tổ trinh sát của ông nhận nhiệm vụ bí mật luồn sâu vào khu vực đối phương để nắm tình hình. Khoảng gần nửa đêm, bốn người trong tổ bắt đầu xuất phát. Trời tối đen như mực, cả tổ phải men theo giao thông hào cũ rồi bò sát mặt đất qua từng bãi cỏ cháy khô vì bom đạn. Ông kể rằng lúc ấy ai cũng căng thẳng nhưng tuyệt đối không được gây ra tiếng động. Chỉ cần sơ suất nhỏ có thể khiến cả tổ bị lộ. Sau gần hai giờ tiếp cận, tổ trinh sát phát hiện đối phương đang tăng cường thêm hỏa lực ở phía trước. Ông cùng đồng đội nhanh chóng ghi nhận vị trí rồi tìm cách quay về báo cáo. Thế nhưng trên đường rút lui, pháo sáng bất ngờ bắn lên sáng rực cả một vùng. Tiếng súng vang lên từ phía đối phương khiến cả tổ phải nằm im giữa bãi đất trống. “Tim lúc ấy đập mạnh đến mức tưởng như địch nghe thấy,” ông xúc động kể lại. Sau nhiều phút căng thẳng, cả tổ mới lợi dụng bóng tối tiếp tục rút lui an toàn. Những thông tin do tổ trinh sát mang về đã giúp đơn vị kịp thời điều chỉnh phương án chiến đấu. Rạng sáng hôm sau, trận đánh bắt đầu. Pháo địch dội xuống dữ dội khiến đất đá tung lên mù mịt. Trong tiếng súng vang dội khắp chiến trường, những người lính trẻ vẫn bám chặt công sự chiến đấu. Ông nhớ nhất hình ảnh người đồng đội tên Hùng quê Thái Bình. Dù bị thương ở vai nhưng anh vẫn kiên quyết không rời vị trí chiến đấu. “Hùng chỉ nói một câu: ‘Còn sống là còn giữ trận địa’,” ông nghẹn ngào nhớ lại. Trận chiến kéo dài suốt nhiều giờ. Khi đợt tiến công cuối cùng của đối phương bị đẩy lùi, nhiều chiến sĩ đã mãi mãi nằm lại nơi chiến hào đầy khói lửa. Sau trận đánh ấy, đơn vị ông được lệnh rút ra củng cố lực lượng. Đêm hôm đó, những người lính còn sống ngồi lặng bên nhau giữa ánh đèn dầu leo lét. Không ai nói nhiều, bởi trong lòng ai cũng nhớ tới những đồng đội vừa hy sinh. Ông kể rằng chiến tranh không chỉ có tiếng súng mà còn có cả những tình cảm rất thiêng liêng giữa những người lính trẻ. Họ sẵn sàng nhường nhau từng ngụm nước, từng nắm cơm vắt giữa lúc gian khổ nhất. Có lần ông bị sốt rét nặng giữa rừng. Chính đồng đội đã thay nhau cõng ông suốt nhiều cây số để đưa về trạm quân y. “Trong chiến tranh, đồng đội còn quý hơn ruột thịt,” ông xúc động nói. Năm 1975, khi nghe tin miền Nam hoàn toàn giải phóng, cả đơn vị ôm chầm lấy nhau giữa rừng mà khóc. Bao nhiêu năm chiến đấu gian khổ cuối cùng cũng đến ngày đất nước thống nhất. Sau khi xuất ngũ năm 1976, ông Nguyễn Văn Trường trở về quê hương với nhiều vết thương chiến tranh còn để lại trên cơ thể. Dù cuộc sống thời hậu chiến còn nhiều khó khăn, ông vẫn tích cực lao động sản xuất và tham gia công tác địa phương. Suốt nhiều năm, ông luôn là người gương mẫu trong các phong trào của thôn xóm. Với con cháu, ông thường kể lại những năm tháng chiến trường để nhắc nhở thế hệ trẻ hôm nay phải biết trân trọng hòa bình. Giờ đây, khi tuổi đã ngoài bảy mươi, mỗi lần gặp lại đồng đội cũ, ký ức về mùa hè đỏ lửa Quảng Trị năm nào lại hiện về nguyên vẹn trong tâm trí ông. Đó là quãng đời đầy gian khổ, mất mát nhưng cũng là quãng đời đẹp nhất của tuổi trẻ – quãng đời mà ông đã sống, chiến đấu và cống hiến hết mình cho Tổ quốc Việt Nam thân yêu.



