NGƯỜI LÍNH TRINH SÁT HAI CUỘC CHIẾN (2)
Theo lời giới thiệu của Cựu chiến binh Nguyễn Văn Bình một “Vô lăng” cừ khôi của Mặt trận Vị Xuyên, và được đích thân ông đưa đường, tôi đến thăm Thiếu tá Lương Bá Tảo, cư trú tại xã Thịnh Hưng, huyện Yên Bình (Yên Bái). Mặc dù được thông tin trước, là có “phóng viên” tới phỏng vấn, nhưng chủ nhân căn hộ “VAC” (Vườn - Ao - Chuồng) vẫn rất tất bật. Đoạn, tạm bỏ lại công việc, vị Cựu chiến binh vào nhà tiếp khách xa. Gọi là khách xa, vì tôi chưa được gặp ông, và cũng chưa được nghe những câu chuyệ
Hôm ấy, là 3/8/1964, xã Thịnh Hưng có ba người nhập ngũ cùng lúc. Hai ngày sau, chiều 5 tháng 8 anh em vừa nhận bộ quân trang đầu đời về đến doanh trại thì nghe Đài tiếng nói Việt Nam thông báo đế quốc Mỹ bất ngờ ném bom đánh phá miền Bắc, suốt một giải từ Quảng Bình, Vinh, Thanh Hóa, đến tận Quảng Ninh. Quân và dân ta chiến đấu kiên cường, bắn rơi 8 máy bay Mỹ trong ngày. Vậy là chiến tranh lan rộng ra cả nước rồi. Chúng tôi đã nhập ngũ đúng lúc ý thức và ý chí “Tất cả để đánh giặc Mỹ xâm lược” thôi thúc. Tháng 12 năm đó, sư đoàn 312B nhận lệnh hành quân đi B. Bản doanh Sư đoàn (F312B) đặt tại Quảng Trị. Tôi được biên chế vào Đại đội trinh sát trực thuộc Trung đoàn 165. Năm sau (1965) Mỹ ồ ạt đổ quân vào Việt Nam, chủ trương của trên là phải đánh gục ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ ngay từ thời gian đầu. Đơn vị chúng tôi, linh mới, theo chân các chiến sĩ từng ở chiến trường, nhiều kinh nghiệm, đã trinh sát, nắm chắc căn cứ Cồn Tiên - Dốc Miếu thuộc huyện Giao Linh. Nơi đây Mỹ ngụy xây dựng phòng tuyến điện tử Mắc Na ma ra kiên cố nhằm kiểm soát sự chi viện của miền Bắc vào miền Nam theo trục quốc lộ 1A, dọc dãy Trường Sơn và cả ven biển. Các đơn vị trinh sát của ta kiên nhẫn bám sát mọi biến động của Quân đoàn thủy quân lục chiến khét tiếng Hoa Kỳ này. Nhờ trinh sát nắm chắc tình hình ta đã diệt gọn một đại đội tinh nhuệ của Mỹ, mở đầu cho Chiến dịch mùa khô 1966 - 1967 trên toàn mặt trận khu IV. Riêng tôi, với tư cách Tiểu đội trưởng, nhiều lần cùng đồng đội luồn sâu dọc trung tâm căn cứ Mỹ, ghi chép, vẽ sơ đồ, xác định mở cửa lối vào, mở cửa đường rút ra khi cần thiết, và đặt các giả thiết, nếu điện tử Mỹ phát hiện sẽ xử lý thế nào. Trận đánh mở đầu diệt gọn Đại đội thủy quân lục chiến Mỹ này buộc chúng phải co cụm, thay đổi chiến thuật đối phó với Quân giải phóng. Đây cũng là thắng lợi và là kinh nghiệm của các đơn vị hợp thành trong sư đoàn bộ binh 312.
Cuối năm 1969 Trung đoàn 165 của thiếu tướng Nguyễn Chuông (lúc này là Trung tá), được lệnh chi viện chiến trường Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng. Các đơn vị trinh sát chúng tôi thực hiện theo phương án của Chỉ huy Liên quân Lào - Việt. Cánh đồng Chum được giải phóng, đơn vị rút về biên giới Việt Nam, chuẩn bị gấp cho chiến dịch Đường 9 - Nam Lào. Tại đây, Tiểu đội tôi có nhiệm vụ trinh sát một điểm thuộc khu vực Đường 9 phục vụ cho đánh cắt đường. Cuộc hành quân “Lam Sơn 719” (còn gọi là Chiến dịch Hạ Lào) mùa xuân 1971 của Việt Nam Cộng Hòa với sự hỗ trợ hỏa lực mạnh của Mỹ bị ta đánh bại. Đại tá Nguyễn Văn Thọ chỉ huy Lữ đoàn dù bị Quân giải phóng bắt làm tù binh. Trong chiến công ấy có sự góp phần của chiến sĩ trinh sát. Sau chiến dịch, một bộ phận của Sư đoàn trong đó có Đại đội trinh sát Trung đoàn 165 được rút ra Hà Tĩnh dưỡng sức, sau đấy trở lại Quảng Trị. Quảng Trị, mùa hè 1972 ác liệt và hy sinh đến như thế nào! Nhưng ta làm chủ Thành Cổ được 3 tháng trời, góp phần xoay chuyển cục diện đàm phán Pari, buộc Mỹ phải “xuống thang” ký kết Hiệp định vào đầu xuân năm sau (1973). Bộ tổng tư lệnh quyết định thành lập Quân đoàn I vào tháng 2/1975. Quân đoàn I “Quả đấm thép” kiềm tỏa các trọng điểm mạnh của quân ngụy Sài Gòn, “thần tốc” đánh chiếm Đồng Soài, Sông Bé rồi tiến vào Đô Thành Sài Gòn. Dọc đường tiến quân, luôn bị máy bay địch bám sát đánh chặn. Đại đội trinh sát được giao nhiệm vụ tìm ra kẻ chỉ điểm. Đến ngày thứ ba mới phát hiện nhóm cơ yếu ngụy. Chúng tôi đánh tiêu diệt và bắt được một tên, hắn khai, nhóm có nhiệm vụ bám sát lực lượng tiến quân của quân giải phóng, báo cho máy bay và pháo binh đánh chặn đường. Khoảng 08h00 sáng 30 tháng Tư, khi trinh sát thuộc E165 chúng tôi cùng bộ đội đến căn cứ tử thủ Phú Lợi, thì cũng là lúc tướng Nguyễn Chuông Sư đoàn trưởng E312 có mặt, trực tiếp chỉ huy trận giáp chiến Phú Lợi. Trận quyết định này đã khiến tướng ngụy Lê Nguyên Vĩ phải tự sát. Một nữ biệt động được Ban quân báo bố trí, đi xe “Zép” đến gặp, ra hiệu dẫn đường. Tướng Chuông ra lệnh chọc thủng các tuyến tử thủ của quân đội ngụy ở Thủ Dầu một, ở Lái Thiêu, tiến thẳng về Sài Gòn. Lúc này cả nội thành như một cơn địa chấn. Lính ngụy chạy tháo thân, nhân dân đổ ra đường vẫy cờ hoa reo hò đón mừng Quân giải phóng... Cảm giác ấy trong tôi, đến hôm nay vẫn nguyên vẹn.
Kể đến đây, người Cựu binh già. Thiếu tá Lương Bá Tảo, bỗng ngước nhìn ra khu vườn đồi. Giây lát, giọng ông trầm lặng:
- Làm trinh sát áp lực lắm. Nhận nhiệm vụ; phía ta, bằng mọi giá phải có được kết quả tốt nhất đưa về; còn phía địch, thì mình là mục tiêu di động sống của chúng. Thế nên, sau mỗi trận thắng, người lính trinh sát bao giờ cũng được cấp trên biểu dương như một chiến sĩ xung kích tiến công!
Tôi nhẹ nhàng đua theo:
- Bác là một “pho” kinh nghiệm sống. Vì cả đời, từ lúc là chiến sĩ tổ trưởng ba người, đến khi giữ cương vị Tiểu đoàn trưởng, bác vẫn là chỉ huy trinh sát! Ông già cười, nụ cười hiền hậu.
Nhấp chén trà, tôi lật trang sổ tay tranh thủ “mò chuyện”.
- Thế còn ngày chiến dịch biên giới, bác làm quân báo thế nào?
- Biên giới phía Bắc à? Khác hẳn miền Nam, Lào và Tây Nam. Thiếu tá Tảo trả lời chắc gọn.
Ngay sau ngày được vinh dự tham gia đội hình duyệt binh, khánh thành Lăng Bác và kỷ niệm Quốc khánh 2 tháng 9 ở Hà Nội. Sỹ quan các đơn vị trinh sát trong đó có tôi, được Bộ tổng tham mưu tổ chức tập huấn, sau đấy, được giao đi khảo sát tình hình ở tất cả các tỉnh biên giới phía Bắc, về báo cáo với Bộ Tổng. Chủ động là thế, mà rồi đêm 16/12/1979 khi tôi được lệnh lên Lạng Sơn, 06h00 sáng mặc thường phục ra khu chợ Đồng Đăng, đã thấy lính Trung Quốc lố nhố ngoài thành chợ. Với tư cách trợ lý, chỉ huy trinh sát, tôi báo cáo gấp về trung tâm, là, Trung Quốc đã xâm nhập sâu. Đồn cửa khẩu Đồng Đăng, lực lượng của ta gồm biên phòng, công an, bộ đội đã bị đánh úp. Đơn vị trinh sát phân công nhau mở rộng địa bàn nắm bắt tình hình. Tôi lên mỏm núi thấy cầu Khánh Thê, cầu Lạng Sơn đã bị Trung Quốc đánh sập. Chúng tôi lên đỉnh Mẫu Sơn, đặt trạm quan sát hướng về phía Bằng Tường (Thuộc đất Trung Quốc), cố gắng xem lực lượng chúng thế nào điện về Đài chỉ huy. Động thái của Trung Quốc ở nơi này là chỉ “rục rịch”. Đến ngày thứ ba vẫn không thấy bên kia đường biên tăng thêm lực lượng, trong khi đó toàn tuyến biên giới phía Bắc đang như “chảo lửa”.
Đầu năm 1982 tôi được điều về Quân khu II, Tư lệnh Quân khu Vũ Lập cử thẳng lên Hà Giang chỉ huy Tiểu đoàn trinh sát với nhiệm vụ, nắm chắc động thái quân Trung Quốc ở cả ba khu vực: Thanh Thủy, Vị Xuyên, thị xã Hà Giang. Nhận thấy phía Trung Quốc, bề ngoài tỏ ra im lặng nhưng âm thầm chuẩn bị một sự thôn tính, nên đầu năm 1984, chỉ huy Quân khu giao nhiệm vụ phụ trách nhóm trinh sát đặc biệt, vượt sang bờ biên trong ngày, nắm tin tức từ nội địa, xác định xem trận địa pháo của Trung Quốc chúng đặt ở đâu. Khi trở về vào đúng đoạn đường cua trên đất Việt Nam, nhóm trinh sát phát hiện hai tên Trung Quốc đi vội, tôi ra lệnh bắt với lý do chúng xâm nhập lãnh thổ. Tên bảo vệ chống trả, bị bắn chết, tên chỉ huy chưa kịp rút súng ngắn bị ta bắt sống. Hắn là Thao Chính Lâm, chính trị viên Tiểu đoàn 3, biên phòng Châu Văn Sơn tỉnh Vân Nam. Tên Lâm được đưa về tra hỏi nhưng hắn nhất định không khai. Ngày thứ 3 thì cắn lưỡi tự tử. Dưới nhiều áp lực, năm 1987 Trung Quốc rút khỏi Vị Xuyên. Cuối năm 1988, tôi được làm thủ tục ra quân trở về địa phương kết thúc gần 25 năm binh nghiệp.
Ngồi trước mặt tôi đây, người lính - Vị sĩ quan trinh sát mặt đất đích thực của hai cuộc chiến bảo vệ Tổ quốc. Hai Huân chương chiến công trong bộ 7 tấm Huân, Huy chương, Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng, và nhiều vinh dự nhà nước khác đã nói lên điều đó. Trở về địa phương, người lính Cụ Hồ vẫn không ngừng nghỉ, ông liên tiếp được giao các trọng trách: Bí thư Đảng ủy xã, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, Chủ tịch Hội cựu chiến binh xã trong suốt mười mấy năm trời. Ở tuổi 82 tâm thế tự tin, thư thái, đã giúp ông có được đầu óc minh mẫn và tính tình gần gũi cởi mở hòa nhập với tất cả mọi người. Điều này, với tuổi già chắc không nhiều lão nhân có được. Như chợt nhớ, tôi hỏi ông về những đồng đội cùng ngày nhập ngũ của huyện nhà. Thiếu tá Tảo khẽ gật đầu: “- Đã hơn 60 năm. Đồng ngũ. Hy sinh có, thương tật, bệnh tật có. Mỗi người một cảnh ngộ. Cũng nên nhắc đến đồng đội thành danh, như đại tá Nguyễn Văn Đức, như Giám đốc sở Lương Đình Công. Nói chung, tất cả đều giữ được phẩm chất Bộ đội. Có lẽ qua lò lửa chiến tranh nên họ đứng vững cho đến đoạn tuổi này.
- Vâng. Đúng thế ạ!
Tôi không còn biết có lời nào hơn câu “chốt” rành mạch và chắc nịch của “người lính già đầu bạc”, mà chỉ ngỏ ý cảm ơn ông về một chiều hầu chuyện đầy bổ ích. Chúc ông, vị nông dân cầm súng, luôn bình an bên con cháu và xóm làng Thịnh Hưng.


