Cựu chiến binh

NGƯỜI LÍNH TRINH SÁT NÚI BÀ ĐEN VÀ KÝ ỨC THỜI HOA LỬA

NGƯỜI LÍNH TRINH SÁT NÚI BÀ ĐEN VÀ KÝ ỨC THỜI HOA LỬA

Tây Ninh22/05/2026VÕ THẢO HẠNH (TRƯỜNG TIỂU HỌC MAI VĂN TỰU)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
NGƯỜI LÍNH TRINH SÁT NÚI BÀ ĐEN VÀ KÝ ỨC THỜI HOA LỬA

TIÊU ĐỀ: NGƯỜI LÍNH TRINH SÁT NÚI BÀ ĐEN VÀ KÝ ỨC

THỜI HOA LỬA

Người kể: Cựu chiến binh Nguyễn Tuấn Kiệt (Ấp Đức Ngãi 2, xã Hậu Nghĩa, tỉnh Tây Ninh).

Người ghi lại: Võ Thảo Hạnh (Chi đoàn Trường Tiểu học Mai Văn Tựu - Xã Hậu Nghĩa).

CÂU CHUYỆN

Nay đã ở tuổi xế chiều, sống lặng lẽ và bình yên tại ấp Đức Ngãi 2, xã Hậu Nghĩa, tỉnh Tây Ninh, cậu tôi – cựu chiến binh Nguyễn Tuấn Kiệt ít khi nhắc lại quá khứ. Cậu càng hiếm khi chủ động kể về một thời bom đạn tưởng chừng chỉ còn trong sử sách. Vậy mà trong những ngày tháng Tư lịch sử, nhìn ngắm những lá cờ Tổ quốc tung bay, cậu đã mở lòng kể cho tôi nghe về những ký ức kiên cường được chôn sâu trong tâm khảm.

1. Xếp bút nghiên theo nghiệp binh, hòa mình vào làn sóng Đồng Khởi

Cậu tôi sinh năm 1940, tại xã Đa Phước Hội, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng có 4 anh em trai đều tham gia kháng chiến. Chứng kiến những áp bức, bóc lột tàn bạo của chính quyền tay sai qua các chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, ngọn lửa căm thù và lòng yêu nước đã thôi thúc người thanh niên trẻ tuổi lên đường.

Tháng 01/1958, khi vừa tròn 18 tuổi, cậu chính thức gia nhập du kích xã. Từ năm 1958 đến 1960, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cậu tích cực tham gia xây dựng cơ sở, tập hợp lực lượng, âm thầm chuẩn bị cho thời cơ chín muồi để rồi cùng nhân dân Bến Tre nổi dậy làm nên phong trào Đồng Khởi vang dội. Từ một người du kích xã, cậu trưởng thành lên du kích tỉnh rồi trở thành bộ đội chủ lực Miền, trực tiếp cầm súng phá tan bộ máy kìm kẹp của địch ở cơ sở và tham gia nhiều trận đánh lớn.

(Bức ảnh ghi lại chân dung hiền hậu của cựu chiến binh Nguyễn Tuấn Kiệt giữa đời thường)

(Ánh mắt vời vợi của người lính trinh sát năm xưa khi kể lại những ngày tháng tuổi trẻ hào hùng)

2. Bám trụ "mắt thần" trên đỉnh núi Bà Đen và giọt nước mắt thương nhớ đồng đội

Trong suốt 19 năm gắn bó với nghiệp binh, kỷ niệm sâu sắc và khốc liệt nhất trong đời quân ngũ của cậu là những ngày tháng làm chỉ huy một đơn vị trinh sát thuộc Tiểu đoàn Trinh sát 47, Bộ Tham mưu Miền (nay là Tiểu đoàn 47, Bộ Tham mưu Quân khu 7 - Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân).

Đơn vị của cậu có nhiệm vụ cắm chốt trên đỉnh núi Bà Đen, lập đài quan sát để theo dõi, điều tra mọi biến động quân sự của địch ngay tại cửa ngõ căn cứ Trung ương Cục miền Nam và chuẩn bị chiến trường, trinh sát mục tiêu, bí mật luồn sâu vào vùng địch để tiêu diệt mục tiêu. Phát hiện ra "con mắt nguy hiểm" này, kẻ địch đã điên cuồng trút hàng vạn tấn bom đạn xuống vùng núi Bà rộng khoảng 50.000m2 nhằm hủy diệt đơn vị. Để bám trụ và giữ vững thông tin, cậu cùng các đồng đội đã phải "lấy hang động làm nhà, lấy đá làm giường".

Mỗi lần mạch chuyện dẫn về những ngày tháng bám đá kiên cường ấy, đôi mắt cậu lại nhòe đi, giọng nghẹn lại rồi bật khóc thành tiếng khi nghĩ về đồng đội đã nằm lại ngày ấy.

(Bia tưởng niệm ghi dấu nơi anh dũng hy sinh của 181 cán bộ, chiến sĩ trinh sát)

Giọt nước mắt của người lính già trinh sát, dẫu đã đi qua bao thăng trầm cuộc đời, vẫn vẹn nguyên nỗi đau xé lòng khi nhớ về những người đồng đội cũ: “Ngày ấy, nhiều anh em hy sinh anh dũng trên mảnh đất này lắm cháu ơi... Có những đứa còn rất trẻ, còn bao nhiêu ước mơ, bao nhiêu dự định và cả người yêu nơi quê nhà chưa kịp gặp lại đã phải gửi lại xương máu nơi lòng đất lạnh…” Chính tay cậu đã ôm lấy thân thể lạnh buốt của họ, chính tay cậu đã đắp lên những nấm mộ vội vàng giữa làn bom đạn. Nỗi nhớ thương ấy chưa từng nguôi ngoai, những cái tên của đồng đội vẫn khắc sâu trong tâm trí cậu như một phần xương thịt.

(Giọt nước mắt xúc động lăn dài trên má người cựu chiến binh khi nghĩ về những người đồng đội đã nằm lại chiến trường)

3. Sài Gòn ngày rợp bóng cờ hoa và nghĩa tình thời bình ấm áp

Sau khi chiến thắng và làm chủ núi Bà Đen, đơn vị của cậu nhận lệnh hành quân cấp tốc về hướng Đức Hòa, Đức Huệ (tỉnh Long An) để chuẩn bị cho trận đánh cuối cùng. Trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, cánh quân của cậu cơ động đánh địch từ hướng Long An tiến thẳng về Bà Quẹo – Ngã tư Bảy Hiền, tiến công đánh chiếm cơ quan Bộ Tổng tham mưu ngụy. Cậu kể, trên đường tiến về giải phóng Sài Gòn, sức mạnh vũ bão của quân ta lớn đến nỗi hầu như không gặp phải sự phản kháng đáng kể nào từ tàn quân địch.

Ngày 30/4 lịch sử đối với cậu vẫn vẹn nguyên cảm xúc của ngày chiến thắng. Đó là một Sài Gòn rực rỡ, ngập tràn sắc đỏ của cờ, hoa và biểu ngữ. Từng dòng người hân hoan đổ ra đường mừng ngày toàn thắng. Những người lính trinh sát dạn dày sương gió như cậu đã vỡ òa hạnh phúc, rơi nước mắt khi được sống trọn vẹn trong vòng tay chào đón của nhân dân.

Sau ngày đất nước thống nhất, cậu tiếp tục cống hiến cho quân đội ở Tiểu đoàn Trinh sát 47 với quân hàm Thượng úy. Đến tháng 7/1977, cậu chuyển ngành về công tác tại Công ty Vitaco và chính thức nghỉ hưu vào năm 1990. Trở về cuộc sống đời thường, gia tài lớn nhất của cậu là những tấm Huân chương cao quý: Bảng vàng danh dự "Một thời để nhớ" khắc ghi cuộc đời binh nghiệp vinh quang của đồng chí Nguyễn Tuấn Kiệt, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhì do Hội đồng Nhà nước trao tặng, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Ba mang đậm dấu ấn màu thời gian, Chứng nhận Kỷ niệm chiến sĩ đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân - Tiểu đoàn Trinh sát 47, chứng nhận một thời thanh xuân rực lửa bảo vệ Tổ quốc.

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng nghĩa tình đồng đội, nghĩa đảng tình dân thì luôn tiếp nối. Thật hạnh phúc khi giữa thời bình, những người đồng đội cũ năm xưa vẫn tìm về bên nhau, cùng ngồi lại dưới nếp nhà bình yên tại ấp Đức Ngãi 2 để sưởi ấm lại tình đồng chí sắt son, cùng chia sẻ tách trà và những buồn vui cuộc sống.

4. Bài học sâu sắc cho một Đảng viên - Giáo viên.

Hôm nay, cậu tôi đã tám mươi sáu tuổi. Thời gian có thể làm mái tóc bạc đi, dáng người gầy yếu hơn sau những năm tháng chiến tranh khốc liệt, nhưng trong ánh mắt của cậu vẫn ánh lên tinh thần kiên trung của một người lính năm xưa. Mỗi vết thương trên cơ thể cậu là một chứng tích sống động của lịch sử, là lời nhắc nhở thiêng liêng để thế hệ hôm nay biết trân quý hòa bình, độc lập và cuộc sống yên bình mà mình đang có.Ngồi bên cậu, lắng nghe những câu chuyện đầy máu, nước mắt nhưng cũng tràn đầy vinh quang, lòng tôi trào dâng một cảm xúc tự hào khó tả. Ký ức chiến tranh qua lời cậu kể không còn là những trang sử khô khốc trên sách vở, mà là hơi thở, là cảm xúc, là xương máu thật sự của thế hệ cha anh.

Mỗi lần nghe giai điệu bài hát Viết Tiếp Câu Chuyện Hòa Bình, lòng tôi lại nghẹn lại bởi câu hát: “Cha ông ta ngày xưa ngã xuống để cho đời ta ngày sau đổi lấy hòa bình…”. Đó không chỉ là ca từ, mà còn là sự thật được viết bằng máu, nước mắt và tuổi xuân của biết bao người lính như cậu tôi. Những hy sinh ấy đã đổi lấy bầu trời yên bình hôm nay để thế hệ trẻ được cắp sách đến trường, được hát vang những bài ca quê hương trong hòa bình và hạnh phúc. Chính vì vậy, tôi càng tự nhắc bản thân phải sống trách nhiệm hơn, cống hiến nhiều hơn, để tiếp tục “viết tiếp câu chuyện hòa bình” bằng chính công việc gieo tri thức và nuôi dưỡng tâm hồn học sinh qua âm nhạc.

Là một Đảng viên, một giáo viên âm nhạc tiểu học, tôi càng thấm thía trách nhiệm của mình trong việc gieo mầm lòng yêu nước, lòng biết ơn và niềm tự hào dân tộc cho các em học sinh qua từng bài hát, từng câu chuyện lịch sử, từng bài học về quê hương đất nước. Tôi tin rằng, khi những giai điệu yêu thương được cất lên bằng cả trái tim, đó cũng chính là cách thế hệ hôm nay tiếp nối ngọn lửa lý tưởng mà cha anh đã dùng cả tuổi xuân và xương máu để giữ gìn.

Cảm ơn cậu – Người mà con kính yêu và tự hào nhất.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn