Cựu chiến binh

NGƯỜI LÍNH TRỞ VỀ TỪ HAI CUỘC CHIẾN

Cuộc đời của người lính và sau hai cuộc chiến ông trở về,cuộc chiến với lính Mỹ và cuộc chiến với những di chứng lịch sử qua góc nhìn đầy thân yêu của người chắt ngoại - Hoàng Thị Hà Anh.

Hưng Yên25/12/2025Hoàng Thị Hà Anh (Học sinh lớp 8C – Trường TH & THCS Minh Tân, xã Bình Thanh, tỉnh Hưng Yên(Đoàn xã Bình Thanh))2 lượt xem0 lượt chia sẻ

NGƯỜI LÍNH TRỞ VỀ TỪ HAI CUỘC CHIẾN
Suốt những năm tháng lớn lên,tôi thường nghe những câu chuyện về chiến tranh qua sách vở và phim ảnh. Nhưng lịch sử chỉ thực sự chạm đến trái tim khi nó được kể lại bằng giọng nói thân thương, gần gũi nhất: giọng của Cụ ngoại Phạm Văn Vinh tôi.

Cụ không chỉ là một người thương binh đã hiến dâng tuổi xuân cho “cuộc chiến thời hoa lửa”, mà Cụ còn là người đã nuôi nấng tâm hồn tôi từ những câu chuyện lịch sử,những bài học về lòng dũng cảm, sự kiên cường,ý chí và tình yêu đất nước.

Chiến trường đã để lại cho Cụ những vết thương thầm lặng mà kéo dài đến tận ngày hoà bình - những di chứng sức khỏe và tinh thần mà chỉ những người thương binh như Cụ mới thấu hiểu.

Hôm nay, với tư cách là một người chắt ngoại, tôi không chỉ tìm hiểu về một nhân vật lịch sử, mà muốn lắng nghe người thân yêu nhất của mình kể lại những năm tháng sinh tử ấy. Bài viết này là lời tri ân chân thành và cũng là lời yêu thương sâu sắc nhất mà tôi – một người cháu – dành cho Cụ khi Cụ vẫn đang hiện diện giữa các thế hệ con cháu. Qua từng dòng chữ, tôi mong muốn lưu giữ trọn vẹn những năm tháng lịch sử gắn liền với cuộc đời Cụ: từ quãng đời chiến đấu nơi chiến trường khốc liệt đến cuộc chiến âm thầm sau hòa bình, khi Cụ kiên cường sống và vượt qua những di chứng chiến tranh trong đời sống thường ngày. Tất cả được kể lại bằng góc nhìn đầy kính yêu của một người cháu, để ghi nhớ, để trân trọng và để những hy sinh lặng thầm mà lớn lao ấy không bao giờ bị lãng quên.

Cụ tôi-Phạm Văn Vinh sinh ngày 1/12/1938, cụ sinh ra và lớn lên tại quê hương dấu yêu: Thôn Dương Liễu 1-xã Minh Tân, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình (nay thuộc thôn Dương Liễu 1, xã Bình Thanh, tỉnh Hưng Yên) trong một gia đình 5 anh em, một người là liệt sĩ, còn một người đã đi xa vì bệnh tật.

Khi trưởng thành, Cụ lập gia đình với Cụ bà Đặng Thị Quyển vào năm 1955, trong bối cảnh đất nước vừa bước ra khỏi cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, còn muôn vàn khó khăn, thiếu thốn. Cuộc sống gia đình tuy giản dị nhưng ấm áp, là chốn bình yên hiếm hoi giữa những biến động của thời cuộc.

Đến ngày 31 tháng 1 năm 1966, trước tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, Cụ đã dứt khoát lên đường nhập ngũ. Phía sau bước chân ra đi ấy là một mái nhà còn chất chứa bao nỗi lo toan: người vợ hiền tảo tần ngày ngày mong ngóng, bốn người con thơ dại chưa kịp trưởng thành. Quyết định của Cụ khi ấy không chỉ là sự dâng hiến trọn vẹn cho lý tưởng cách mạng cao cả, mà còn là nỗi giằng xé sâu thẳm của tình thân, là sự hy sinh lặng thầm khi gửi lại cả yêu thương và trách nhiệm nơi hậu phương.

Nghe theo tiếng gọi của Đảng và Nhà nước, năm 1966 Cụ lên đường nhập ngũ, đóng quân tại Hướng Hóa – Quảng Trị. Đến năm 1968, Cụ tham gia chiến dịch Khe Sanh, chiến trường khi ấy được gọi là B ngắn. Cụ thường nhắc lại câu nói giản dị mà hào sảng: “Ăn cơm Bắc, đánh giặc Nam.” Cụ thuộc C12, D6, Trung đoàn 88, Sư đoàn 308 – Sư đoàn cơ động chiến lược số 1 của Bộ Quốc phòng, giữ vai trò tiểu đội trưởng. Nhiệm vụ của đơn vị là trực tiếp chiến đấu với sư đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ tại khu vực Đông Hà – Cửa Việt khi chúng đổ bộ lên.

Những năm tháng nơi chiến trường vô cùng gian khổ. Cụ kể: “Bấy giờ cơm không có mà ăn, phải ăn củ mít luộc, rau dại; nằm hầm suốt ngày. Đội vận chuyển thì người bị bom đạn kẻ thù nã xuống thành trăm mảnh, không ai có thể tìm được nguyên vẹn thi thể; người vì tận mắt chứng kiến cảnh đồng đội chết dưới hàng loạt súng đạn của kẻ thù mà sợ quá, hoảng loạn tâm thần. Cụ may mắn hơn khi chỉ bị thương nặng ở cột sống, trên người vẫn còn bộ quân phục rách tả tơi, máu me bê bết.” Đó là những ngày sống giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết, nơi thiếu thốn chồng chất, nơi ý chí con người bị thử thách đến tận cùng.

Chiến tranh không chỉ cướp đi sức lực mà còn để lại những mất mát không gì bù đắp nổi. Như bao người lính khác, Cụ cũng từng chứng kiến đồng đội ngã xuống ngay trước mắt mình. Khi được hỏi cảm xúc lúc ấy ra sao, Cụ trầm ngâm kể lại: “Lúc bấy giờ cũng chẳng biết làm thế nào. Chỉ biết dồn hết căm thù, cố gắng giết giặc, lập công để trả thù cho đồng đội. Mà lúc ấy, cả quân đoàn chết gần hết cháu ạ…” Lời kể mộc mạc nhưng chứa đựng nỗi đau tột cùng và ý chí chiến đấu không gì lay chuyển.

Ngày 6 tháng 5 năm 1968, giữa khói lửa chiến trường, Cụ vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng – một dấu mốc thiêng liêng, ghi nhận lòng trung thành, sự hy sinh và những đóng góp (mà cụ vẫn hay nói rằng chẳng thấm vào đâu, là may mắn hơn các đồng chí của cụ vạn lần ) của Cụ cho sự nghiệp cách mạng.

Trong những năm tháng trực tiếp chiến đấu, Cụ không may bị thương nặng ở cột sống. Cụ được đưa đi điều trị qua nhiều tuyến bệnh viện, từ Viện 4, Viện 11, rồi chuyển ra Bệnh viện 108 tại Hà Nội. Năm 1972, Cụ về Đoàn 153 (Thái Bình) để an dưỡng, sau đó trở lại Tiền Hải – Thái Bình tiếp tục điều trị. Những ngày ấy, bom đạn giặc đánh phá ác liệt, việc chữa trị luôn phải gián đoạn để sơ tán liên tục. Cụ từng nghẹn ngào kể lại: “Không biết sống chết ra sao, không biết có sống được không, cũng chẳng chắc là sống nổi.”

Ngày 11 tháng 1 năm 1972, Cụ xin được trở về nhà để Cụ bà trực tiếp chăm sóc. Sau khi trở về, gia đình Cụ có thêm hai người con, trong đó có một người không may qua đời do ảnh hưởng của chất độc da cam. Chiến tranh đã lùi xa, nhưng những nỗi đau mà nó để lại cho Cụ thì chưa bao giờ nguôi ngoai. Di chứng chiến tranh ngày ngày hành hạ cơ thể Cụ: chân phải tuy còn nhưng đã mất hoàn toàn cảm giác; những cơn co giật, những cơn đau dai dẳng khiến nhiều lần Cụ đang đi lại bỗng ngã quỵ. Ngay cả những sinh hoạt tối thiểu nhất, Cụ cũng không thể tự chủ. Thế nhưng, vượt lên trên những đau đớn của thể xác, với tinh thần “tàn nhưng không phế”, Cụ vẫn kiên cường sống, tích cực lao động sản xuất, phát triển kinh tế gia đình và dốc lòng nuôi dạy các con nên người. Các con của Cụ đều trưởng thành: một người trở thành bác sĩ quân y, ba người còn lại đều có cuộc sống ổn định và những đóng góp nhất định cho quê hương. Hiện nay, Cụ là thương binh hạng 1/4 – minh chứng sống động cho sự hy sinh to lớn của một người lính cách mạng.

Nhớ lại những năm tháng chiến đấu, Cụ trầm ngâm nói: “Đó là một cuộc chiến vô cùng ác liệt. Lúc ấy chỉ có một suy nghĩ là dồn hết căm thù, quyết tâm giết giặc để bảo vệ sân bay Khe Sanh và tuyến đường 9 – Nam Lào. Những ngày đầu kháng chiến gian nan lắm, chẳng còn biết sợ là gì, chỉ một lòng một dạ đánh giặc.” Còn khi nói về hòa bình, ánh mắt Cụ ánh lên niềm vui giản dị: “Sướng lắm! Cuối cùng mọi người cũng được sống trong hòa bình, vui lắm chứ!”. Từ những năm tháng máu lửa đã đi qua, Cụ thường kể cho tôi nghe bằng giọng chậm rãi, mộc mạc. Có những lúc vết thương cũ trái gió trở trời lại nhức buốt, cơn đau hành hạ đến tím tái mặt mày, vậy mà Cụ vẫn lạc quan, vẫn nở nụ cười hiền. Cụ bảo: “Ngày ấy, để có được hòa bình, biết bao xương máu đã đổ xuống, bao người đã nằm lại. Giờ được sống yên ổn thế này là sướng lắm rồi. Hồi trước dân mình đói khổ đủ bề, còn bây giờ hòa bình, cuộc sống sướng khôn kể. Vì thế phải biết quý từng ngày được sống trong yên bình, cố gắng học hành, tu dưỡng chắt nhé”


Chiếc xe lăn – người bạn của CỤ

Chiến tranh không chỉ để lại trên thân thể Cụ Phạm Văn Vinh những vết thương âm thầm, mà còn in dấu trên ngực áo Cụ những huân chương, huy chương lấp lánh – sự ghi nhận thiêng liêng của Tổ quốc đối với một đời người lính. Cụ vinh dự được Nhà nước trao tặng Huy chương Kháng chiến hạng Nhì, Huân chương Vẻ vangHuân chương hạng Ba. Mỗi tấm huân chương

không đơn thuần là một phần thưởng, mà là một trang ký ức thấm đẫm máu và mồ hôi, là chứng nhân cho những năm tháng Cụ đã chiến đấu quên mình giữa ranh giới sinh – tử, từ những trận đánh ác liệt đến những đêm dài hành quân, tải đạn trong mưa bom bão đạn. Thế nhưng, vượt lên trên mọi danh hiệu được đúc bằng kim loại, điều khiến Cụ trân trọng và tự hào hơn cả chính là thẻ Đảng viên – người bạn đồng hành đã theo Cụ suốt 55 năm tuổi Đảng. Đó là quãng đời son sắt gắn bó với lý tưởng cách mạng, được Nhà nước ghi nhận bằng chế độ tuổi Đảng và sự trân trọng lâu dài. Cụ nhập ngũ khi đã có gia đình riêng, phía sau là vợ hiền, con thơ, nhưng chính lý tưởng cộng sản, lý tưởng độc lập dân tộc đã trở thành kim chỉ nam soi đường, giúp Cụ vượt qua nỗi nhớ nhà da diết và những sợ hãi rất con người nơi chiến trường khốc liệt. Với Cụ, tuổi Đảng không chỉ là con số của thời gian, mà là tuổi của niềm tin bền bỉ, của sự kiên định tuyệt đối với con đường đã chọn – ngay cả khi tiếng súng đã lặng im và cuộc chiến mới với bệnh tật, đau đớn bắt đầu. Đó là biểu tượng của tinh thần không bao giờ đầu hàng: không đầu hàng trước kẻ thù, cũng không đầu hàng trước số phận. Chính tinh thần ấy đã làm nên hình ảnh một người Đảng viên mẫu mực, một con người sống trọn vẹn, kiên cường và cống hiến, để lại niềm tự hào sâu sắc cho gia đình, cho quê hương và cho các thế hệ mai sau.

Mỗi lần nhìn thấy Cụ, trong tôi luôn dâng lên hai cảm xúc đan xen: xót xa và biết ơn. Xót xa vì những vất vả, đau đớn mà Cụ đã âm thầm gánh chịu suốt cả cuộc đời; biết ơn vì những cống hiến lớn lao của Cụ cho đất nước, cho hòa bình hôm nay. Cụ không chỉ là một người lính, mà còn là một tấm gương sáng để tôi và bao thế hệ con cháu soi vào, học cách sống kiên cường và có trách nhiệm. Là chắt ngoại của Cụ Phạm Văn Vinh, tôi được thừa hưởng một di sản vô giá – tinh thần chiến đấu không bao giờ khuất phục. Sự hy sinh của Cụ không chỉ nằm ở quyết định lên đường nhập ngũ năm 1966, gánh vác trách nhiệm với non sông, mà còn ở việc Cụ dũng cảm mang theo những di chứng chiến tranh trở về đời thường, lặng lẽ chịu đựng để nuôi dạy con cháu nên người. Đó là một cuộc chiến khác, âm thầm hơn nhưng cũng bền bỉ và khốc liệt không kém.

Cụ ngoại tôi – người lính năm xưa đã gác lại trách nhiệm của một người cha đối với bốn người con thơ để nhận lấy trách nhiệm thiêng liêng với Tổ quốc. Cụ là hiện thân của “Thương binh Thép”: thép không phải bởi những mất mát hình hài, mà bởi một tinh thần đã được tôi luyện qua lửa đạn, kiên cường đối mặt và chiến thắng những di chứng vô hình suốt những năm tháng hòa bình. Tinh thần thép ấy, sự kiên cường ấy, đã trở thành di sản bất tử, lặng lẽ chảy trong dòng máu của các thế hệ con cháu chúng tôi. Đó cũng chính là lời nhắc nhở, là lời cam kết để tôi – người cháu hôm nay – biến lòng biết ơn thành hành động cụ thể: sống tử tế, sống có trách nhiệm, không ngừng học tập và cống hiến, để những trang sử mới của đất nước luôn rạng ngời, xứng đáng với dấu ấn vinh quang của người lính Phạm Văn Vinh.

Cảm ơn Cụ, vì đã mang đến cho chúng cháu cuộc sống hòa bình hôm nay.Thật tự hào khi con được là chắt của Cụ!

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn