Người lính Trường Sơn
Hồi nhỏ, mỗi lần về thăm ông ngoại, tôi hay ngồi cùng bác bên bờ sông La, nhìn về dãy Trường Sơn mờ xa. Thỉnh thoảng, bác kể chuyện chiến trường — những mảnh ký ức rời rạc như dòng nước ngầm trồi lên rồi lại lặn mất.
Năm 1972, khi chiến sự ở Quảng Trị trở nên khốc liệt, bác tôi – một cán bộ khung – được điều ra Bắc nhận tân binh là sinh viên, công nhân từ các trường đại học. Họ còn rất trẻ, hầu hết chưa từng đi xa, chưa quen mang vác nặng. Trên đường hành quân, có người sốt cao, có người phồng rộp bàn chân đến mức không đi nổi, phải cáng. Lệnh trên là không được bỏ ai lại, nên sức nặng của mỗi người lên tới gần 50 kg. Ban đêm, dù kiệt sức, tân binh vẫn phải học cách sinh tồn trên chiến trường.
Giữa họ và những người lính kỳ cựu như bác tôi thường xảy ra mâu thuẫn. Những tân binh trí thức nhiều lý luận, ít trải nghiệm; còn cán bộ cũ quen với kỷ luật thép và bản năng sinh tồn. Có lần, bác bắt gặp một cậu sinh viên mang nặng cả ba-lô sách vở, từ điển Nga–Việt. Khi bác ném chúng đi, cậu nổi nóng mắng “đồ vô văn hoá”. Chỉ đến khi bác đáp lại bằng tiếng Nga, cậu mới lặng người. Bác nói: “Từ giờ đến khi vào chiến trường, hãy học cách sống sót.” Cũng có người bác phải cầm roi quật vì không chịu nằm thấp khi tập ném lựu đạn — người lính đó sau này hy sinh anh dũng, giữ được chốt cuối cùng.
Vào đến Quảng Bình, đơn vị bác trú trong nhà dân. Bên trong, một đôi trẻ yêu nhau quấn quýt, bên ngoài pháo sáng dội trời. Bác nhìn họ rồi nói: “Ở đây sống chết từng giờ, yêu nhau thì cứ để vậy.” Khi vượt sông Thạch Hãn vào thành cổ, đơn vị bác mất gần một nửa quân số. Cuộc sống trong thành cổ dựa hoàn toàn vào bến vượt sông: đêm là thương binh ra, tiếp viện vào. Có đêm, bác phải dẫn quân phản kích giành lại từng mét bờ sông; ngày mai lại bị pháo san phẳng.
Chiến đấu trong khoảng cách chỉ bằng tầm ném lựu đạn, đôi khi hai bên chỉ nghe rõ hơi thở của nhau. Trong những trận đánh đầu, bác và đồng đội phải gắn lê xông lên, xáp lá cà trong bóng tối. Sau đó, chỉ cần nghe tiếng “lắp lê” của bên ta, đối phương cũng lặng lẽ rút. Bác là một trong số ít người sống sót rút khỏi thành cổ – 40 người vượt sông, chỉ còn 16 lành lặn. Về sau, mỗi lần gặp lại đám lính trẻ năm nào, người chỉ huy của bác lại khóc: “Ngày ấy chúng mày chết nhiều quá, có oán bố không?”
Bác tôi ít khi kể chuyện, càng không khoe huân chương hay giấy chứng nhận dũng sĩ. Ông chỉ lặng lẽ chăm sóc ông ngoại suốt mười năm cuối đời. Một lần, tôi kể bác nghe về bức thư dự cảm của một liệt sĩ trên báo. Bác cười buồn: “Có gì lạ đâu, bến đó bao lớp người ngã xuống rồi.”
Bác không thích câu “Đường ra trận mùa này đẹp lắm”. Với bác, những con đường ấy đầy máu, mồ hôi và nước mắt, nhưng vẫn phải đi vì chẳng còn con đường nào khác. Bác nói: “Giá như ngày đó mình nghiêm hơn, ‘ác’ hơn, thì chắc nhiều đứa giờ này còn sống.”
Rồi bác nhìn về phía Trường Sơn xa tít:
“Ông Phạm Tiến Duật viết là vũ khí của ông ấy. Còn tụi lính sinh viên của bác, lãng mạn và nhiều hoài bão. Nhưng bác là người lính… chỉ tiếc là không giữ được nhiều mạng hơn.”


