Người lính Trường Sơn và lời thề theo suốt cả cuộc đời
Có những con người, cả cuộc đời không một lần tự nhận mình là anh hùng. Họ chỉ lặng lẽ sống, lặng lẽ cống hiến, rồi lặng lẽ già đi giữa bình yên của đất nước. Nhưng chính cuộc đời họ lại là những trang sử sống, để mỗi khi được lắng nghe, chúng ta càng thấu hiểu rằng hòa bình hôm nay đã được đánh đổi bằng biết bao tuổi xuân, mồ hôi, nước mắt và cả máu của lớp người đi trước.

Người lính Trường Sơn và lời thề theo suốt cả cuộc đời
Câu chuyện của cựu chiến binh Hà Văn Nam
Có những con người, cả cuộc đời không một lần tự nhận mình là anh hùng.
Họ chỉ lặng lẽ sống, lặng lẽ cống hiến, rồi lặng lẽ già đi giữa bình yên của đất nước.
Nhưng chính cuộc đời họ lại là những trang sử sống, để mỗi khi được lắng nghe, chúng ta càng thấu hiểu rằng hòa bình hôm nay đã được đánh đổi bằng biết bao tuổi xuân, mồ hôi, nước mắt và cả máu của lớp người đi trước.
Ông Hà Văn Nam, sinh tháng 8 năm 1934, người dân tộc Thái, quê tại xã Bình Lương, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã Hóa Quỳ, tỉnh Thanh Hóa) là một người như thế.
Tuổi trẻ theo tiếng gọi non sông
Tháng 01 năm 1953, khi mới ngoài đôi mươi, ông tham gia cách mạng, được giao làm Tổ trưởng Nông hội địa phương. Đó là những ngày cả dân tộc đang dồn sức cho cuộc kháng chiến trường kỳ, mỗi người dân đều là một chiến sĩ trên mặt trận của mình.
Ngày 26 tháng 02 năm 1954, ông khoác lên mình màu áo lính, trở thành chiến sĩ Tiểu đoàn 9, Trung đoàn 225, Cục Quản lý xe - Tổng cục Hậu cần.
Những tháng đầu quân ngũ, ông làm nhiệm vụ vệ binh tại Binh trạm Nghệ Tĩnh. Sau đó, từ năm 1955 đến 1959, ông vừa nuôi quân, vừa học nghề điện, học lái xe.
Ít ai biết rằng, những người lính lái xe năm ấy không chỉ học cách điều khiển vô lăng, mà còn học cách vượt qua nỗi sợ hãi trước bom đạn, học cách giữ vững tay lái giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết.
Người lính của những cung đường Trường Sơn
Ngày 06 tháng 02 năm 1960, ông vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam, do ông Trịnh Sỹ Cung và ông Đinh Bạt Quyên giới thiệu. Đó không chỉ là niềm tự hào, mà còn là lời hứa thiêng liêng ông mang theo suốt cuộc đời quân ngũ.
Những năm sau đó, con đường của ông là những tuyến vận tải huyền thoại mang tên Đoàn 559.
Ngày nối ngày...Đêm nối đêm...Tiếng động cơ xe hòa cùng tiếng bom rền trên dãy Trường Sơn.
Ông cùng đồng đội lái những chiếc xe chở đầy lương thực, đạn dược, xăng dầu, vũ khí vượt hàng nghìn cây số để tiếp tế cho chiến trường miền Nam.
Những cung đường ấy không hề bằng phẳng.
Đó là những con đường đất đỏ lầy lội sau mưa.
Là những con dốc dựng đứng.
Là những khúc cua cheo leo giữa núi rừng.
Là những hố bom vừa bị cày xới sau mỗi trận không kích.
Có những đêm mưa rừng xối xả, nước ngập bánh xe, bùn đất bám kín thân xe. Có những lúc máy bay địch quần thảo trên đầu, bom nổ rung chuyển cả cánh rừng, đất đá tung mù trời. Xe vừa tránh được loạt bom này lại tiếp tục lăn bánh trong tiếng còi báo động của đơn vị.
Bởi ông hiểu...
Nếu đoàn xe dừng lại...
Phía trước sẽ thiếu gạo.
Thiếu đạn.
Thiếu xăng.
Thiếu cả niềm tin của những người lính đang ngày đêm chiến đấu nơi chiến trường. Vì thế, dù phải vượt qua mưa bom, bão đạn, dù nhiều lần đối diện với hiểm nguy, người lính lái xe Trường Sơn vẫn chỉ có một mệnh lệnh duy nhất:
"Hàng phải tới đích."
Một lần bị kỷ luật... nhớ suốt đời
Có một kỷ niệm mà hơn sáu mươi năm trôi qua, ông vẫn nhắc lại với giọng đầy trăn trở.
Năm 1961, trong một lần làm nhiệm vụ vận chuyển lương thực và vũ khí, do đỗ xe không đúng quy định, ông bị Chi bộ Đại đội 8, Tiểu đoàn 225 kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo.
Nhiều người sẽ nghĩ đó chỉ là một sai sót nhỏ.
Nhưng với ông, đó là bài học lớn nhất cuộc đời.
Ông kể, những đêm sau đó gần như không thể chợp mắt.
Ông tự trách mình.
Trằn trọc nhiều ngày.
Chỉ vì cảm thấy bản thân đã làm ảnh hưởng đến kỷ luật của đơn vị.
Chính sự nghiêm khắc với bản thân ấy đã trở thành kim chỉ nam cho cả cuộc đời quân ngũ.
Có lẽ...
Một người lính lớn lên không chỉ từ những chiến công.
Mà còn từ chính sự dũng cảm nhìn nhận sai lầm của mình.
Trưởng thành giữa khói lửa
Từ người lính lái xe, ông lần lượt đảm nhiệm nhiều trọng trách:
10/1959 – 8/1964: Đảng viên, Tiểu đội trưởng Đại đội 8, Tiểu đoàn 225.
9/1964 – 2/1965: Tổ trưởng Tổ Đảng kiêm lái xe, Đại đội Tuyến 1, Đoàn 550.
3/1965 – 2/1966: Tổ trưởng Tổ Đảng, Trung đội lái xe, Đại đội 9, Tuyến 1, Sư đoàn 559.
3/1966 – 2/1967: Trợ lý lái xe Tiểu đoàn 56, Binh trạm 6.
3/1967 – 2/1968: Chi ủy viên, Đội trưởng tăng gia hậu cần.
3/1968 – 7/1969: Chi ủy viên, Chính trị viên phó Đại đội 2, Binh trạm 35.
8/1968 – 3/1969: Chi ủy viên, Đại đội phó Đại đội 2, Tiểu đoàn 59.
9/1969 – 3/1970: Chi ủy viên, Đại đội phó Đại đội 4, Tiểu đoàn 54, Binh trạm 41.
4/1970 – 1971: Chi ủy viên, Đại đội trưởng Đại đội 3, Tiểu đoàn 54.
6/1971 – 12/1972: Chi ủy viên, Đại đội trưởng Đại đội 3, Tiểu đoàn 67, Trung đoàn 11.
16/5 đến 11/1973 tham gia vận tải khu vực chiến trường biên giới nước Lào.
1973 – 1976: Chi ủy viên, Trưởng ban Hành chính Ban Tham mưu, Trung đoàn 11, Sư đoàn 571.
Mỗi chức vụ là thêm một trách nhiệm. Mỗi lần nhận nhiệm vụ là thêm một lần đặt tính mạng mình sau Tổ quốc.
Một đám cưới giữa chiến tranh
Giữa những năm tháng khốc liệt ấy, tình yêu cũng đến thật giản dị.
Năm 1968, đơn vị đã tổ chức lễ cưới cho ông với bà Nguyễn Thị Mậu, sinh năm 1954, quê Nho Quan, Gia Viễn, Ninh Bình, là một nữ công nhân.
Không váy cưới.
Không cỗ bàn linh đình.
Không tiếng nhạc.
Chỉ có lời chúc phúc của đồng đội, tiếng cười giữa núi rừng và niềm tin rằng ngày hòa bình nhất định sẽ đến.
Đó có lẽ là lễ cưới đặc biệt nhất của một thế hệ đã gửi tuổi trẻ cho đất nước.
Những phần thưởng của lòng trung thành
Hơn hai mươi năm quân ngũ, ông luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ.
Ông được tặng 03 Bằng khen của Đoàn 559 - Cục Hậu cần, 05 Giấy khen của Trung đoàn 225 và Trung đoàn 11, Giấy khen của Công trường 24 cùng nhiều danh hiệu thi đua.
Đặc biệt:
25/8/1962: Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Ba.
03/12/1974: Hội đồng Cố vấn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tặng Huân chương Chiến sĩ Giải phóng hạng Ba.
18/11/1985: Nhà nước tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất.
Những tấm huân chương ấy không chỉ ghi nhận thành tích của một cá nhân.
Đó còn là minh chứng cho sự hy sinh thầm lặng của cả một thế hệ.
Ngày 13 tháng 8 năm 1976, ông trở về quê hương nghỉ hưu tại Đội Ghềnh, tiếp tục sinh hoạt tại Chi bộ Đồng Giao.
Đến năm 1989, ông cùng gia đình chuyển về quê hương Thanh Hóa, định cư tại thôn Luống Đồng, xã Hóa Quỳ (nay là thôn Hóa Quỳ 3, xã Hóa Quỳ, tỉnh Thanh Hóa).
Rời quân ngũ nhưng không rời trách nhiệm với quê hương, người lính năm xưa tiếp tục cống hiến bằng uy tín và tấm gương của mình trong cuộc sống đời thường. Với phẩm chất mẫu mực của người đảng viên, sự chân thành, gần gũi và tinh thần trách nhiệm, ông luôn được bà con trong thôn tin tưởng và quý trọng.
Từ năm 2000 đến năm 2010, ông được Nhân dân tín nhiệm bầu làm người có uy tín trong cộng đồng đồng bào dân tộc thiểu số. Trong suốt thời gian đảm nhiệm, ông tích cực tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vận động bà con đoàn kết, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển kinh tế, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư và góp phần giữ vững an ninh, trật tự tại địa phương.
Hôm nay, người lính năm xưa đã bước sang tuổi ngoài chín mươi.
Đôi bàn tay từng siết chặt vô lăng trên những cung đường Trường Sơn giờ đã run theo năm tháng. Nhưng trong ánh mắt ấy vẫn còn nguyên niềm tự hào của một người đã dành trọn tuổi trẻ cho Tổ quốc.
Đất nước hôm nay đã hòa bình. Những cung đường Trường Sơn năm nào đã phủ màu xanh. Những đoàn xe nối nhau trong bom đạn chỉ còn trong ký ức.
Nhưng câu chuyện của ông Hà Văn Nam sẽ còn được kể mãi.
Để thế hệ hôm nay hiểu rằng...
Có một thế hệ đã đi qua chiến tranh bằng tất cả lòng dũng cảm.
Có một thế hệ đã viết nên độc lập bằng chính tuổi xuân của mình.
Xin được cúi đầu tri ân người lính Trường Sơn Hà Văn Nam và hàng triệu người con ưu tú của dân tộc đã làm nên dáng hình đất nước.
Hòa bình đẹp nhất khi chúng ta biết trân trọng những người đã hy sinh cả tuổi trẻ để gìn giữ nó.
---ĐOÀN XÃ HÓA QUỲ---



