Người lính và bếp Hoàng Cầm giữa mùa mưa
Ở Trường Sơn, thứ khó nhóm nhất không phải tinh thần.
Mà là… bếp lửa.
Mùa mưa rừng kéo dài triền miên.
Củi lúc nào cũng ướt sũng.
Khói bốc lên dễ lộ vị trí nên việc nấu ăn trở thành chuyện vô cùng quan trọng.
Đơn vị tôi dùng bếp Hoàng Cầm — loại bếp đào âm dưới đất để giấu khói.
Ban ngày nhìn mặt đất chẳng khác gì bình thường.
Nhưng bên dưới là cả hệ thống dẫn khói ngoằn ngoèo.
Tôi còn nhớ lần đầu được giao đào bếp.
Đất rừng đầy rễ cây và đá cứng.
Đào cả buổi mới xong.
Một anh nuôi nhìn cái bếp méo mó của tôi rồi cười:
“Bếp cậu đào chắc khói bay thẳng lên trời.”
Cả nhóm cười nghiêng ngả.
Đời lính là thế.
Giữa gian khổ nhất vẫn tìm ra chuyện để cười.
Có những hôm mưa xối xả từ sáng đến tối.
Anh nuôi phải nằm rạp xuống bếp che lửa khỏi tắt.
Mọi người ngồi quanh chờ cơm chín mà bụng réo liên hồi.
Khói từ bếp len qua những đường hầm nhỏ rồi tan mỏng dưới tán cây.
Nhìn rất lạ.
Một buổi tối cuối năm 1972, đơn vị tôi vừa hành quân về sau nhiều ngày liên tục.
Ai cũng đói lả.
Anh nuôi nhóm được bếp rồi nấu nồi cơm độn sắn với chút canh rau rừng.
Khi mở vung nồi, hơi nóng bốc lên nghi ngút giữa cái lạnh mưa rừng khiến ai cũng nuốt nước bọt.
Một cậu lính trẻ ngồi cạnh tôi cười:
“Giờ cho em bát cơm trắng chắc em cưới luôn.”
Cả lán cười ầm.
Tiếng cười vang lên át cả tiếng mưa ngoài rừng.
Chiến tranh nhiều khi hạnh phúc chỉ là một bữa cơm nóng.
Có lần máy bay trinh sát bay ngang đúng lúc đơn vị đang nấu ăn.
Tất cả lập tức dập lửa, phủ kín bếp bằng lá rừng rồi nằm im.
Tim ai cũng đập thình thịch.
Chỉ cần lộ khói, cả khu có thể bị đánh bom ngay.
May mắn hôm ấy máy bay bay qua.
Đến tối anh nuôi mới nhóm bếp lại.
Nồi cơm khê gần hết nhưng chẳng ai chê.
Ai cũng ăn sạch.
Ngày hòa bình trở về, nhiều lần nhìn khói bếp bay lên sau nhà, tôi lại nhớ bếp Hoàng Cầm năm ấy.
Nhớ những buổi ngồi quanh nồi cơm giữa rừng sâu.
Nhớ tiếng cười của đồng đội trong đêm mưa.
Và nhớ một thời tuổi trẻ đã sống giản dị mà kiên cường biết bao giữa bom đạn chiến tranh.



