Người lính và cây khế trước sân
Mùa hè năm ấy đến muộn, những cơn mưa đầu mùa kéo dài suốt nhiều ngày khiến con đường làng trở nên lầy lội, những thửa ruộng ven sông ngập nước đến tận bờ, còn cây khế già trước sân nhà ông Tư thì bắt đầu trổ hoa trắng li ti giữa những tán lá xanh um. Người trong làng bảo cây khế ấy đã có từ trước chiến tranh, được chính tay ông Tư trồng khi con trai ông còn nhỏ, vậy mà trải qua bao năm bom đạn, cây vẫn sống, hết mùa này sang mùa khác, cứ đến khoảng tháng sáu lại ra hoa rồi kết thành những chùm quả vàng ươm, ngọt đến mức trẻ con trong xóm thường đứng ngoài hàng rào ngóng vào.
Con trai ông Tư tên là Bình, là người duy nhất trong nhà có thể sửa được mọi thứ, từ chiếc cày bị gãy, mái ngói bị dột cho đến chiếc radio cũ mà ông Tư quý như báu vật. Bình lớn lên trong nghèo khó nhưng tính tình hiền lành, từ nhỏ đã thích ngồi dưới gốc khế đọc sách, có những buổi trưa mùa hè mẹ gọi mãi không chịu vào nhà vì còn mải đọc một cuốn truyện cũ nhặt được từ nhà người hàng xóm.
Năm Bình hai mươi tuổi, chiến tranh lan rộng và anh nhập ngũ.
Ngày lên đường, ông Tư không nói được nhiều, chỉ lặng lẽ đưa cho con một chiếc ba lô đã được mẹ anh khâu lại nhiều lần, còn bà Tư thì gói một ít cơm nắm và mấy quả khế chín vào lá chuối, dặn con đi đường nhớ ăn.
Bình cười, bảo rằng khế nhà mình chua lắm, mang theo làm gì, nhưng mẹ anh đáp rằng dù chua hay ngọt thì đó cũng là vị của quê nhà, biết đâu ở nơi xa con lại nhớ.
Trước khi bước ra khỏi cổng, Bình quay lại nhìn cây khế rất lâu rồi nói rằng khi nào trở về, anh sẽ dựng một chiếc ghế dưới gốc cây để cha mẹ ngồi hóng mát.
Không ai nghĩ đó sẽ là lời hứa cuối cùng của anh.
Những năm sau đó, gia đình nhận được vài lá thư.
Bình kể rằng anh vẫn khỏe, đơn vị đang hành quân qua những vùng rừng xa, đôi khi gặp mưa lớn đến mức cả người lẫn ba lô đều ướt sũng, nhưng anh em vẫn động viên nhau rằng chỉ cần cố gắng thì ngày chiến thắng sẽ không còn xa.
Trong một lá thư, Bình viết rằng anh nhớ cây khế trước sân.
Anh hỏi mẹ năm nay cây có sai quả không, cha đã sửa lại cái giếng chưa và chiếc ghế tre mà anh làm trước ngày nhập ngũ còn dùng được không.
Bà Tư đọc thư xong thì cười, bảo chồng rằng con mình ở tận đâu mà trong đầu chỉ nghĩ đến cây khế.
Ông Tư không nói gì, chỉ bước ra sân nhìn cây.
Mùa khế năm ấy, cây ra quả rất nhiều.
Bà Tư hái những quả chín đầu tiên, đặt lên chiếc đĩa men trắng rồi để dành một quả đẹp nhất dưới bàn thờ, nói rằng để phần cho thằng Bình.
Năm sau cũng vậy.
Năm sau nữa cũng vậy.
Nhưng thư của Bình ngày càng ít.
Rồi không còn nữa.
Một buổi chiều cuối năm, hai người cán bộ quân đội tìm đến nhà.
Ông Tư vừa nhìn thấy họ đã biết có chuyện chẳng lành.
Người cán bộ trẻ đứng trước hiên nhà, nói rất chậm rằng Bình đã hy sinh trong một trận đánh, đơn vị đã tìm kiếm nhiều ngày nhưng không thể đưa thi hài anh về được vì khu vực ấy vẫn còn giao tranh dữ dội.
Bà Tư ngồi xuống đất, hai tay ôm lấy chiếc khăn của con mà khóc.
Ông Tư thì đứng im.
Ông không khóc.
Ông chỉ hỏi người cán bộ rằng trước khi hy sinh, Bình có nhắc gì về gia đình không.
Người cán bộ im lặng một lúc rồi nói rằng có.
Bình từng kể với đồng đội về cây khế trước sân nhà mình, nói rằng sau chiến tranh anh sẽ về dựng một chiếc ghế dưới gốc cây cho cha mẹ ngồi.
Ông Tư nghe xong quay mặt đi.
Từ ngày ấy, ông không bao giờ chặt một cành khế nào nữa, dù cây đã già, nhiều cành khô và đôi khi gió lớn làm gãy cả nhánh.
Ông bảo rằng cứ để nó sống.
Bởi đó là thứ cuối cùng con trai ông để lại.
Nhiều năm sau chiến tranh, làng quê dần thay đổi.
Những con đường đất được mở rộng, những mái nhà tranh được thay bằng mái ngói, trẻ con lớn lên trong tiếng cười thay vì tiếng bom, còn những người lính trở về lần lượt tìm đến gia đình mình.
Một ngày nọ, một người đàn ông ngoài bốn mươi tuổi tìm đến nhà ông Tư.
Ông mặc chiếc áo cũ đã bạc màu, trên ngực có vài huân chương.
Ông đứng trước cổng rất lâu rồi mới hỏi rằng đây có phải nhà của anh Bình không.
Ông Tư đã già, lưng còng, nhưng khi nghe tên con, ông vẫn bước rất nhanh ra cổng.
Người đàn ông tự giới thiệu mình là đồng đội của Bình.
Ông kể rằng trong trận đánh cuối cùng, Bình bị thương nhưng vẫn cố ở lại cùng một tổ chiến đấu để giữ vị trí cho đồng đội rút lui.
Trước lúc mất, Bình lấy trong túi áo ra một quả khế khô mà anh đã giữ từ rất lâu.
Người đồng đội hỏi tại sao anh lại mang theo thứ ấy.
Bình cười và nói rằng đó là quả khế mẹ gửi theo từ ngày nhập ngũ.
Nó đã khô từ lâu nhưng anh vẫn giữ vì mỗi khi nhớ nhà, chỉ cần nhìn thấy nó là anh nhớ đến cây khế trước sân.
Ông Tư nghe đến đó thì quay sang nhìn cây khế.
Những cành cây già nua vẫn vươn ra ngoài mái nhà, trên đó có vài chùm quả chín vàng.
Người đồng đội đứng trước cây khế thật lâu rồi nói rằng nhiều năm qua ông vẫn nhớ lời Bình, nhưng chiến tranh kết thúc, mỗi người mỗi nơi, ông cũng mất rất nhiều thời gian mới lần tìm được về quê.
Ông Tư không trách.
Ông chỉ bảo người đồng đội ở lại ăn một bữa cơm.
Bữa cơm hôm ấy không có gì đặc biệt, chỉ có rau luộc, cá kho và một đĩa khế chín.
Trong lúc ăn, người đồng đội kể rất nhiều chuyện về Bình, những chuyện mà gia đình chưa từng biết, rằng Bình từng hát rất hay, từng cứu một đồng đội bị thương giữa trận địa, từng nhường phần lương khô cuối cùng cho một chiến sĩ trẻ mới nhập ngũ và đặc biệt là mỗi khi có thời gian nghỉ, anh thường lấy quả khế khô trong túi áo ra nhìn rồi kể chuyện quê nhà.
Bà Tư nghe mà vừa cười vừa khóc.
Bà nói rằng hóa ra ở xa như thế mà con mình vẫn nhớ nhà đến vậy.
Sau bữa cơm, ông Tư lấy một chiếc ghế tre cũ đặt dưới gốc khế.
Chiếc ghế ấy không phải do Bình làm, bởi anh chưa kịp trở về.
Nhưng ông Tư đã tự tay làm nó theo đúng lời con từng nói.
Ông ngồi xuống, đưa mắt nhìn những chùm khế trên cao rồi bảo người đồng đội rằng từ nay mỗi năm nếu cây có quả, ông sẽ hái một ít để dành, coi như phần của Bình.
Người đồng đội ngồi bên cạnh, im lặng nhìn ông.
Chiều xuống rất chậm.
Gió từ ngoài đồng thổi vào làm những chiếc lá khế rung lên xào xạc, vài quả khế chín rơi xuống nền đất mềm.
Ông Tư cúi xuống nhặt một quả, lau sạch rồi đặt lên lòng bàn tay.
Ông nói rằng ngày trước con trai ông từng bảo khế nhà mình chua, vậy mà không hiểu sao sau khi nó đi, ông ăn quả nào cũng thấy ngọt.
Người đồng đội nghe vậy thì cúi đầu.
Có những nỗi đau không thể dùng lời để an ủi, bởi người đã mất không thể trở về, những năm tháng đã qua cũng không thể lấy lại, nhưng ký ức thì vẫn còn đó, nằm trong một chiếc ghế dưới gốc cây, trong một quả khế chín, trong một lá thư đã cũ và trong ánh mắt của những người vẫn còn sống.
Nhiều năm sau nữa, khi ông Tư mất, cây khế vẫn còn.
Người trong làng kể rằng con cháu ông không ai nỡ chặt cây, bởi họ biết đó là cây khế mà một người lính trẻ từng hứa sẽ trở về ngồi dưới bóng cây cùng cha mẹ.
Mỗi mùa hè, khi khế chín vàng, người ta vẫn thấy trẻ con trong xóm hái những quả thấp nhất, còn những quả trên cành cao thì để nguyên, bởi bà con trong làng bảo rằng đó là phần dành cho người lính đã đi xa.
Và dưới gốc cây, chiếc ghế tre cũ vẫn được đặt ở đó.
Mỗi khi chiều xuống, ánh nắng xuyên qua những tán lá tạo thành những vệt sáng dài trên mặt đất, người ta vẫn có cảm giác như có một chàng trai trẻ đang ngồi dưới gốc cây, trên tay cầm một quả khế, mắt nhìn ra con đường làng và chờ một ngày được trở về.
Chỉ tiếc rằng người trở về sau cùng không phải là anh, mà là ký ức về anh, lặng lẽ ở lại dưới tán cây đã chứng kiến cả một đời người.


