Người lính và chiếc võng mắc bên triền đá
Đời lính Trường Sơn năm ấy gắn với những chiếc võng nhiều hơn giường chiếu. Đi đến đâu mắc võng đến đó. Giữa rừng. Ven suối. Hay bên triền đá cheo leo. Chiếc võng của tôi làm bằng dù xanh đã bạc màu gần hết. Nó theo tôi suốt gần sáu năm chiến tranh. Tôi nhớ một đêm mùa hè năm 1971. Đơn vị dừng chân bên sườn núi sau nhiều ngày hành quân liên tục. Ai cũng mệt lả. Chúng tôi mắc võng giữa hai thân cây bên triền đá rồi nằm vật xuống ngủ. Đêm ấy trăng sáng lắm. Ánh trăng lọt qua kẽ lá rừng rơi loang lổ lên những chiếc võng đung đưa. Xa xa tiếng suối chảy hòa cùng tiếng côn trùng. Trong khoảnh khắc ấy, chiến tranh dường như ở rất xa. Một cậu lính trẻ nằm võng cạnh tôi khẽ hỏi: “Anh Sơn này, sau này hòa bình anh muốn làm gì?” Tôi nghĩ một lúc rồi đáp: “Muốn ngủ một giấc thật yên.” Cậu bật cười. Nhưng rồi cả hai đều im lặng. Vì chúng tôi hiểu trong chiến tranh, một giấc ngủ không bom đạn là điều xa xỉ biết bao. Có lần đang ngủ giữa đêm thì báo động máy bay. Cả tiểu đội bật dậy lao xuống hầm. Chiếc võng của tôi bị sức ép bom làm đứt dây rơi xuống đất đầy bùn. Sáng hôm sau tôi lại buộc lại rồi tiếp tục mang theo. Nó cũ dần theo từng năm tháng. Nhưng chưa bao giờ rời khỏi tôi. Ngày hòa bình trở về, tôi vẫn mang chiếc võng ấy về quê. Đến bây giờ, mỗi chiều hè tôi vẫn mắc nó dưới gốc nhãn sau nhà nằm nghỉ. Mỗi lần võng đưa nhẹ trong gió, tôi lại nhớ rừng Trường Sơn, nhớ ánh trăng trên triền đá năm nào và nhớ những người lính trẻ từng gửi cả tuổi thanh xuân mình vào những chiếc võng đung đưa giữa thời hoa lửa.


