NGƯỜI LÍNH VỊ XUYÊN – KÝ ỨC “LÒ VÔI THẾ KỶ”

Bác Trần Hoàng Anh sinh ngày 20 tháng 2 năm 1962. Mười tám tuổi, tức năm 1980, bác nhập ngũ, bắt đầu những năm tháng quân ngũ tưởng chừng chỉ là huấn luyện, rèn luyện như bao người lính thời bình. Nhưng rồi lịch sử đã gọi tên bác vào một trong những chiến trường khốc liệt nhất sau năm 1975 – mặt trận Vị Xuyên, Hà Giang.
Bác nói với giọng trầm: “Trong số các anh em, bác là may mắn. Chứ lên chiến trường thì làm sao mà ai cũng nhìn thấy đạn để tránh, cứ xác định trước là hi sinh…”
Lệnh đi – bước chân lên chiến trường
Sau cuộc chiến biên giới năm 1979, nhiều người dưới xuôi tưởng rằng chiến tranh đã lùi xa. Nhưng thực chất, từ năm 1984, phía Bắc tiếp tục đánh phá dữ dội các tỉnh biên giới nước ta. Đến năm 1985, các quân khu bắt đầu tuyển quân tăng cường cho mặt trận Hà Giang – khi ấy còn gọi là tỉnh Hà Tuyên.
Đơn vị của bác thuộc Quân khu 3, được lệnh tăng cường cho Quân khu 2. Khi xe chở bộ đội đi, suốt dọc đường không ai biết mình sắp bước vào nơi nào. Chỉ đến khi dừng ở bãi sân Trường Văn hoá Quân khu 2, cán bộ mới thông báo:
“Lần này các đồng chí lên chiến đấu trực tiếp trên biên giới phía Bắc”.
Bác được biên chế vào Đại đội 3, Tiểu đoàn 1, tập kết tại khu vực Cầu Mè – cây số 5, thị xã Hà Giang. Nghỉ đúng một đêm, hôm sau đơn vị tổ chức lực lượng xung phong trinh sát địa hình chiến trường. Bác – vì lớn tuổi nhất tổ – đã giơ tay xung phong đi đầu.
Từ Cầu Mè, bộ đội được xe chở vào tới Hang Rơi – hậu phương dã chiến, phía cửa hang quay vào đất Việt, phía sau lưng là sườn núi hướng sang Trung Quốc, pháo địch không bắn thẳng vào được. Trong hang, gạo, nước, lương thực tập kết cho cả tiểu đoàn.
Từ đây, mọi người đi bộ hoàn toàn. Đường không phải lối mòn mà là những “cầu khỉ” bằng thân gỗ buộc dây rừng, bắc ngang các vách núi dựng đứng. Ba tiếng đồng hồ trong đêm, không được nói chuyện, không được phát ra tiếng động. Người sau dẫm đúng dấu chân người trước, vì chỉ cần trượt một bước có thể vướng mìn, là chết. Bác nói: “Lúc đó không còn thời gian để sợ nữa”.
Lò vôi tại điểm 685 – đỉnh 772 và cơn mưa pháo
Đơn vị đi qua điểm cao 685 – nơi sau này được gọi là “lò vôi thế kỷ”. Cả quả núi trắng toát vì pháo bắn san phẳng, không còn một mảng cây xanh. Pháo hai bên ngày đêm dội vào khiến cả ngọn núi như bị nghiền nát. Bác đọc lại mấy câu thơ lính truyền nhau:
“685 – lò vôi nung dở,
Vành mũ người sau chạm gót giày người trước”
Đi tiếp khoảng nửa giờ nữa, đơn vị đến điểm cao 772 – nơi sau này trở thành dấu ấn máu của Sư đoàn 356. Do đội hình giữ nguyên theo điều lệnh, quân di chuyển thành hàng dài. Địch dùng trinh sát pháo quan sát, chờ cho đội hình dồn lên đỉnh 772 rồi bắn pháo dồn dập vào đoạn giữa. Quân ta bị dồn ép, thương vong lớn. Bác nói chậm rãi: “Trung Quốc dạy ta dùng pháo để đánh trận Điện Biên Phủ ngày trước, thì giờ nó dùng chính pháo đó đánh mình”. Từ đó, những cái chết không chỉ đến trong lúc chiến đấu mà có thể đến bất cứ lúc nào.
Đời sống ở chốt – nước từ sương, cơm từ gạo đỏ
Ở chốt Vị Xuyên, nước là thứ quý hơn máu. Không ai có nước rửa mặt, không có nước đánh răng. Ban đêm, bộ đội căng áo mưa hứng sương, sáng ra dốc từng giọt nước vào bi đông để uống. Thức ăn chủ yếu là: Gạo đỏ – đổ nước nóng vào cho nở thay cơm. Ruốc cá mạt làm thức ăn phụ. Thịt lợn muối mang lên chốt để lâu ngày thối rữa, nhưng vì đói, vẫn có người ăn.
Hậu quả là 90% quân số bị tiêu chảy, nhưng vẫn phải bám chốt vì không có người thay. Bác kể lại những người đồng đội: “Trong khi đi vệ sinh, trúng đúng quả mìn, hi sinh ngay tại chỗ”.
Rừng núi Vị Xuyên còn đầy rẫy rệp, ruồi vàng, bọ chó, đốt sưng tấy, nhiễm trùng, mưng mủ. Nhưng đau đớn thể xác không bằng áp lực tinh thần khi sống giữa ranh giới của cái chết từng giờ.
Trước trận đánh – khi con người nói với nhau lời cuối
Trước mỗi đợt đánh, những người lính kể hết cho nhau nghe chuyện gia đình, người yêu, quê quán. Bởi ai cũng hiểu, có thể người nằm xuống là chính mình. Bác nói: “Ở giữa cái chết mới biết mình sống rất thật”. Rồi bác đọc lại những câu thơ được truyền tai nhau giữa chiến hào:
“Những cây dốc hơn 500 bậc
Vành mũ người sau chạm gót giày người trước
Lính vận tải quần đùi áo buộc
Gùi hàng, tóc cắt cho nhau”.
Tóc cắt cho nhau không phải để làm đẹp – mà để đỡ bẩn, đỡ chấy rận, đỡ nhiễm trùng khi bị thương.
Những năm tháng giữ chốt 1984 – 1988
Từ năm 1984 đến năm 1988, bác liên tục luân phiên trực chốt chiến đấu, không bao giờ có khái niệm “an toàn tuyệt đối”. Hai bên không đánh giáp lá cà, mà chủ yếu là pháo, lựu đạn, súng bộ binh nã qua lại trong khe núi đá.
Đơn vị bác sau đó được biên chế vào Trung đoàn 122 – Sư đoàn 313, Quân khu 2, đóng ở sườn núi dốc cheo leo cao khoảng 2000 mét, hướng về điểm cao 1509 – nơi lính vẫn gọi vui là: “Một năm không ngán” – nghĩa là đã đặt chân lên đây thì chỉ có tiến, không có sợ.
Tháng 6 năm 1988, bác bị thương ở vai, được đưa về Bệnh viện Quân khu 2 – Bệnh viện số 6 tại Phong Châu, Phú Thọ điều trị. Hai tháng sau, tháng 8 năm 1988, bác ra quân cũng là lúc dừng trận đánh biên giới, khép lại tám năm binh nghiệp – trong đó bốn năm ròng rã ở Vị Xuyên. Đến nay, vết thương vẫn còn để lại nhiều di chứng, trông bác già yếu hơn so với tuổi.
Đồng đội nằm lại – có những người lính “chết hai lần”
Rất nhiều đồng đội của bác đã ngã xuống. Có người chết bởi pháo, có người chết vì mảnh đạn khi đi vệ sinh, có người chết vì nhiễm trùng, kiệt sức. Có những người đồng chí bị pháo bắn rơi xuống khe núi, vĩnh viễn nằm sâu dưới lòng đất, không “làm sao” đưa lên được, “…đến giờ thì cây cối bao phủ, bác có về nơi chiến trường xưa cũng khó mà nhận ra”.
Ngày đó, thi thể đồng đội bác được thu gom bằng túi vải quân đội dài 2 mét, một đầu kín, đầu còn lại là dây rút – loại Trung Quốc từng viện trợ trước đây. Đưa xuống nghĩa trang tạm trong điều kiện đất toàn đá cứng, phải dùng xà beng, mai phá từng lớp để chôn cất.
Có những người “chết hai lần” – chết ngoài mặt trận, rồi sau này pháo nã trúng nghĩa trang quy tập, mảnh xác lại bắn khắp nơi, đồng đội thu gom về, chôn cất lần nữa. Đến đây, cổ bác nghẹn lại.
Mãi sau này, Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên mới được xây dựng. Khi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang lên thăm, theo lời bác: “Ông vừa nói, vừa khóc… bảo rằng: anh thương các em thiệt thòi nhiều lắm”.
Ngày trở về – nhưng chiến tranh ở lại trong ký ức
Ngày rút quân cuối cùng về thị xã Hà Giang, trong túi bác chỉ còn vài đồng. Bác mời anh em bát phở bò đầu tiên sau nhiều năm. Bác kể:“Ăn mà như chưa bao giờ được ăn”. Rồi mỗi người lại trở về quê hương riêng. Những đêm nằm ngủ, bác vẫn không yên giấc, vì chỉ cần nghe những âm thanh hơi giống tiếng pháo, lựu đạn, bác vẫn tỉnh giấc như một thói quen của người lính năm xưa. Bác còn kể lại kinh nghiệm khi nghe tiếng pháo: “…nó mà kêu xẹt..xẹt... thì tức là pháo nó tới nơi rồi đấy, phải khẩn trương, còn nó vút rít trên đầu thì vẫn còn xa…”, bác cười vẻ khoái chí lắm. Trong đơn vị bác đến nay có lẽ chỉ còn lác đác vài người còn sống. Mỗi năm, họ vẫn gặp nhau hai lần – 27/7 và 22/12 để cùng nhắc lại tên những người đã nằm xuống, nhắc Vị Xuyên, nhắc 685, nhắc 772, nhắc lại những đêm không ngủ giữa rừng đá lạnh và cả một thời hoa lửa bi tráng.
Cựu chiến binh Trần Hoàng Anh không kể chuyện như một người hùng. Bác kể bằng trí nhớ của người đã đi qua cái chết, bằng giọng chậm, đều, thỉnh thoảng nghẹn lại. Những câu thơ trong lời kể không phải để làm đẹp văn chương, mà là dấu vết tinh thần của một thế hệ lính – những người đã sống và chết giữa “lò vôi thế kỷ” để giữ vững từng tấc đất biên cương.
Vị Xuyên hôm nay yên bình. Nhưng dưới từng lớp đá, từng gốc cây nơi ấy, vẫn còn nguyên hơi thở của những người lính tuổi hai mươi – như bác Trần Hoàng Anh năm nào.



