Cựu chiến binh

NGƯỜI LÍNH XE TĂNG VÀ BẢN HÙNG CA ĐẠI THẮNG

Câu chuyện do đoàn viên thanh niên xã Yết Kiêu, thành phố Hải Phòng thực hiện – ghi lại cuộc gặp gỡ xúc động với nhân chứng lịch sử Vũ Đăng Toàn, người chỉ huy xe tăng 390 húc đổ cánh cổng chính Dinh Độc Lập trong Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975.

Hải Phòng11/11/2025PHẠM THỊ NHUNG (xã Yết Kiêu)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
NGƯỜI LÍNH XE TĂNG VÀ BẢN HÙNG CA ĐẠI THẮNG

CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA

NGƯỜI LÍNH XE TĂNG VÀ BẢN HÙNG CA ĐẠI THẮNG

Câu chuyện do đoàn viên thanh niên xã Yết Kiêu, thành phố Hải Phòng thực hiện – ghi lại cuộc gặp gỡ xúc động với nhân chứng lịch sử Vũ Đăng Toàn, người chỉ huy xe tăng 390 trong Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975.
xã Yết Kiêu.jpg

Tôi vẫn nhớ buổi sáng hôm ấy – bầu trời Yết Kiêu trong xanh lạ thường. Những tia nắng nhẹ của mùa Thu len qua hàng cau trước ngõ, rọi xuống con đường nhỏ dẫn vào thôn Thượng Bì 2. Trên vai chúng tôi là chiếc ba lô nhỏ, bên trong chỉ có cuốn sổ, cây bút và niềm háo hức khi sắp được gặp một nhân chứng lịch sử – bác Vũ Đăng Toàn, người chỉ huy chiếc xe tăng 390 lừng danh trong ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Ngôi nhà nhỏ của bác nằm khiêm nhường giữa khu vườn rợp bóng cây. Bác Toàn đón chúng tôi bằng nụ cười hiền hậu, ánh mắt sáng mà tôi cảm nhận được trong đó vẫn còn lấp lánh ngọn lửa của tuổi hai mươi năm nào – cái tuổi của lý tưởng, của khát vọng và cả của máu xương dành trọn cho Tổ quốc.

Ngồi bên chén trà nóng, bác kể cho chúng tôi nghe về thời khắc lịch sử trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975. Giọng bác chậm rãi nhưng tràn đầy xúc cảm: “Khi ấy, tôi là chỉ huy xe tăng 390 thuộc Lữ đoàn 203 – Quân đoàn 2. Chúng tôi nhận lệnh tiến vào Dinh Độc Lập. Trước khi xuất phát, Chính ủy Trung đoàn 203 – ông Bùi Văn Tùng – đã dặn kỹ đường đi. Khi vượt cầu, xe tôi lạc vài chục mét vào đường Nguyễn Thị Minh Khai, nhưng nhìn thấy Dinh phía đối diện, chúng tôi lập tức quay đầu lại. Lúc ấy, xe tăng 843 của anh Thận từ đường Lê Duẩn lao vào cổng phụ nhưng bị mắc lại. Lái xe Nguyễn Văn Tập hỏi: “Thế nào, anh Toàn?” Tôi hô lớn: “Tông thẳng vào!” Chiếc 390 gầm vang, húc tung cánh cổng chính Dinh Độc Lập.

Khi xe dừng lại, tôi mang theo lá cờ định chạy lên nóc Dinh, nhưng thấy anh Thận từ xe 843 đã cầm cờ lao lên trước. Pháo thủ Lê Văn Phượng vỗ vai tôi, tôi lập tức cầm khẩu AK chạy theo yểm trợ. Giữa khói bụi mịt mờ, khi lá cờ Giải phóng tung bay trên nóc Dinh, chúng tôi òa khóc.”

Khoảnh khắc ấy, chúng tôi như thấy trước mắt hình ảnh những người lính tuổi đôi mươi, áo xanh bạc màu khói súng, trái tim rực cháy khát vọng độc lập. Tôi lặng im, sợ rằng chỉ một tiếng động nhỏ cũng làm vỡ đi dòng ký ức thiêng liêng mà bác đang gìn giữ suốt nửa thế kỷ qua.

Bác Toàn nói: “Sau chiến thắng, chiếc xe tăng 390 được gìn giữ như một kỷ vật của cả dân tộc. Mỗi lần nhìn thấy hình ảnh nó trong bảo tàng, tôi lại nhớ đồng đội mình – những người đã nằm lại trên chặng đường tiến vào Dinh hôm ấy.”

Trong những lời kể giản dị ấy, không có chút khoe khoang hay tự hào riêng tư nào - chỉ có lòng trung thành, tình đồng đội và niềm yêu nước thuần khiết của một người lính. Tôi hỏi bác: “Bác có điều gì muốn gửi gắm đến thế hệ trẻ chúng cháu không ạ?” Bác nhìn xa xăm rồi nói: “Các cháu được sống trong hòa bình là điều quý giá nhất. Hãy trân trọng, và đừng bao giờ quên rằng hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng máu của bao người. Các cháu hãy sống sao cho xứng đáng với quá khứ ấy – bằng việc học tập, cống hiến, và giữ mãi lòng tự hào Việt Nam.”

Chúng tôi rời nhà bác Toàn mà lòng bồi hồi. Con đường nhỏ vẫn lấp lánh nắng, như chính ánh sáng từ câu chuyện bác vừa kể – ánh sáng của ký ức, của niềm tin và của khát vọng. Chiếc xe tăng 390 đã húc đổ cánh cổng sắt năm nào, nhưng trong chúng tôi, nó lại mở ra cánh cổng của nhận thức – để hiểu rằng lịch sử không chỉ nằm trong sách vở, mà sống mãi trong những con người bằng xương bằng thịt quanh ta.

Với chúng tôi, câu chuyện của bác Vũ Đăng Toàn không chỉ là trang sử vàng của dân tộc, mà là bài học về lòng yêu nước, về trách nhiệm và niềm tự hào được làm người Việt Nam. Và tôi tin rằng – ngọn lửa “thời hoa lửa” năm xưa, hôm nay vẫn đang âm ỉ cháy trong tim những người trẻ như chúng tôi – những người con của quê hương Yết Kiêu anh hùng.

NHÂN VẬT & KỶ VẬT LỊCH SỬ

Ông Vũ Đăng Toàn, sinh năm 1952, quê tại thôn Thượng Bì 2, xã Yết Kiêu, thành phố Hải Phòng. Năm 1975, ông là Đại úy- Chính trị viên chỉ huy chiếc xe tăng 390, thuộc Lữ đoàn 203, Quân đoàn 2. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, ông trực tiếp chỉ huy kíp xe tiến công vào trung tâm Sài Gòn trong trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập, góp phần kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, thống nhất đất nước. Sau ngày hòa bình, ông trở về quê hương Hải Phòng, tiếp tục tăng gia sản xuất và tích cực tham gia các hoạt động xã hội.

Chiếc xe tăng T-54B số hiệu 390, thuộc Lữ đoàn 203 – Quân đoàn 2, là chiếc xe húc đổ cổng Dinh Độc Lập vào trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975. Âm vang của cú va chạm ấy không chỉ phá tung cánh cổng sắt, mà còn phá tan xiềng xích của chia cắt, mở ra thời khắc non sông thu về một mối. Hiện nay, xe tăng 390 húc đổ cổng Dinh Độc Lập được công nhận bảo vật quốc gia và được lưu giữ và trưng bày tại Bảo tàng Tăng thiết giáp như một biểu tượng bất tử của tinh thần chiến đấu quả cảm, của khát vọng độc lập, tự do và hòa bình.

Câu chuyện về ông Vũ Đăng Toàn và chiếc xe tăng 390 không chỉ là ký ức của một thời 'hoa lửa', mà còn là ngọn đuốc truyền niềm tin cho thế hệ trẻ hôm nay. Bằng việc ghi lại, chia sẻ và lan tỏa những câu chuyện như thế, tuổi trẻ xã Yết Kiêu – thành phố Hải Phòng đang góp phần giữ gìn giá trị lịch sử, thắp sáng lòng yêu nước và hun đúc khát vọng cống hiến cho Tổ quốc Việt Nam yêu dấu.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn