Người luật sư mang quốc tịch Pháp đã chọn đứng về phía Tổ quốc
Sinh trong một gia đình có quốc tịch Pháp, học luật tại Paris và từng là sĩ quan quân đội Pháp, Thái Văn Lung có đủ điều kiện sống một cuộc đời an toàn. Nhưng ông trở về quê hương, chỉ huy lực lượng kháng chiến và hy sinh sau những ngày bị tra tấn tại Sài Gòn.
Tháng 6 năm 1946, quân Pháp bắt được một người đàn ông trẻ tuổi trong một trận càn tại vùng Thủ Đức. Trên giấy tờ, ông là công dân Pháp, từng học luật ở Paris, từng phục vụ trong quân đội Pháp và hành nghề tại Tòa Thượng thẩm Sài Gòn.
Những người thẩm vấn cho rằng họ đang giữ một người hiểu rất rõ nước Pháp và chắc chắn biết cân nhắc lợi ích của bản thân.
Nhưng người luật sư ấy không nhận mình là người Pháp. Ông nói mình là người Việt Nam.
Tên ông là Thái Văn Lung.
Ông sinh ngày 14 tháng 7 năm 1916 tại Thủ Đức, tỉnh Gia Định. Một số tài liệu ghi năm sinh của ông là 1914, nhưng ngày 14 tháng 7 năm 1916 được nhiều hồ sơ sử dụng hơn. Ông xuất thân trong một gia đình Công giáo khá giả và có quốc tịch Pháp.
Từ nhỏ, Thái Văn Lung được học trong hệ thống giáo dục Pháp. Sau đó, ông sang Paris học tại trường luật. Với học vấn và địa vị gia đình, con đường thăng tiến trong xã hội thuộc địa gần như đã rộng mở trước mắt ông.
Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Thái Văn Lung phục vụ trong quân đội Pháp và được thăng cấp trung úy năm 1941. Sau khi giải ngũ, ông trở về Đông Dương, làm luật sư tại Tòa Thượng thẩm Sài Gòn.
Ông có thể sống yên ổn bằng nghề nghiệp được trọng vọng ấy. Nhưng khi trở lại quê nhà, Thái Văn Lung nhìn thấy một thực tế không hề giống những lời tuyên bố về tự do và bình đẳng mà ông từng được học: người dân Việt Nam vẫn sống trong cảnh mất nước ngay trên quê hương mình.
Người luật sư quyết định lựa chọn một con đường khác.
Tháng 3 năm 1945, sau khi Nhật đảo chính Pháp, Xứ ủy Nam Kỳ chủ trương xây dựng một lực lượng thanh niên công khai để tập hợp quần chúng. Thái Văn Lung cùng Phạm Ngọc Thạch, Mai Văn Bộ và Nguyễn Văn Thủ được giao tham gia tổ chức Thanh niên Tiền phong tại Sài Gòn – Chợ Lớn.
Phong trào nhanh chóng phát triển. Những đoàn thanh niên mặc đồng phục, tổ chức cứu trợ, giữ gìn trật tự, luyện tập và tuyên truyền lòng yêu nước xuất hiện trên nhiều đường phố. Dưới một hình thức hoạt động công khai, lực lượng chuẩn bị cho cuộc giành chính quyền đang từng bước được hình thành.
Ngày 25 tháng 8 năm 1945, hàng trăm nghìn người từ Sài Gòn – Chợ Lớn và các vùng lân cận kéo vào trung tâm thành phố. Nhiều người mang theo gậy gộc, giáo mác và tầm vông vạt nhọn. Chính quyền về tay nhân dân mà không phải trải qua một trận đánh lớn.
Nhưng nền độc lập tại Nam Bộ chỉ có được trong thời gian rất ngắn. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai.
Thái Văn Lung rời văn phòng luật sư để trở thành một người chỉ huy kháng chiến. Ông được giao làm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến huyện Thủ Đức, trực tiếp chỉ huy lực lượng vũ trang địa phương.
Đơn vị do ông lãnh đạo được người dân quen gọi là “Bộ đội Thái Văn Lung”. Trong những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến, vũ khí của lực lượng cách mạng vô cùng thiếu thốn. Nhiều chiến sĩ chỉ có súng săn, lựu đạn tự tạo hoặc tầm vông. Họ phải đối đầu với quân đội Pháp được trang bị xe bọc thép, pháo và súng máy.
Nhờ hiểu biết quân sự cùng khả năng tổ chức, Thái Văn Lung góp phần xây dựng lực lượng chiến đấu tại vùng phía đông Sài Gòn. Ông được giao giữ chức Khu phó Khu 7, một địa bàn bao gồm Sài Gòn – Chợ Lớn và nhiều tỉnh miền Đông Nam Bộ.
Ngày 6 tháng 1 năm 1946, giữa lúc chiến sự vẫn diễn ra ác liệt, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên được tổ chức. Nhân dân Gia Định bầu Thái Văn Lung làm đại biểu Quốc hội khóa I.
Ông vừa là luật sư, một chỉ huy quân sự, vừa là người đại diện được nhân dân lựa chọn vào Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam mới.
Tuy nhiên, Thái Văn Lung không có cơ hội ra Hà Nội dự họp.
Giữa năm 1946, trong một cuộc càn quét tại Thủ Đức, ông cùng một số cán bộ rơi vào tay quân Pháp. Nhận ra người bị bắt là một chỉ huy quan trọng, đối phương đưa ông về Sài Gòn để thẩm vấn.
Thái Văn Lung bị giam giữ và tra tấn nhiều ngày. Người Pháp tìm cách khai thác thông tin về tổ chức kháng chiến tại miền Đông Nam Bộ. Họ cũng dựa vào quốc tịch Pháp của ông để gây sức ép, muốn ông từ bỏ lực lượng cách mạng.
Nhưng Thái Văn Lung không khai báo, cũng không nhận những điều kiện có thể đổi lấy mạng sống.
Ông hy sinh ngày 1 tháng 7 năm 1946, khi chưa tròn ba mươi tuổi.
Ngày 17 tháng 7 năm ấy, Báo Cứu quốc đăng bài của cụ Nguyễn Văn Tố, Trưởng ban Thường trực Quốc hội. Bài viết gọi sự hy sinh của Thái Văn Lung là một mất mát đau đớn đối với quân đội, Quốc hội, giới trí thức và toàn thể đồng bào.
Trong lịch sử Quốc hội Việt Nam, Thái Văn Lung được ghi nhận là một trong những đại biểu khóa I đầu tiên hy sinh trước họng súng quân Pháp. Đơn vị vũ trang mang tên ông tiếp tục chiến đấu tại chiến trường Sài Gòn – Gia Định.
Ngày nay, giữa trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh có một con đường mang tên Thái Văn Lung. Nhưng phía sau tên đường ấy là một lựa chọn hiếm có.
Một người mang quốc tịch Pháp đã từ bỏ những đặc quyền mà quốc tịch ấy đem lại. Một luật sư được đào tạo tại Paris đã rời tòa án để đi cùng những người lính cầm tầm vông. Một sĩ quan từng phục vụ trong quân đội Pháp đã dùng chính hiểu biết quân sự của mình để chống lại cuộc tái xâm lược.
Khi phải lựa chọn giữa một cuộc đời an toàn và quyền độc lập của đồng bào, Thái Văn Lung đã chọn Tổ quốc. Ông giữ nguyên lựa chọn ấy đến phút cuối cùng.



