Người lưu giữ khoảnh khắc lịch sử giữa chiến lũy Hà Nội

Trong dòng chảy hào hùng của lịch sử dân tộc Việt Nam, có những con người đã âm thầm cống hiến để lưu giữ những khoảnh khắc không thể nào quên của đất nước. Nguyễn Bá Khoản là một trong những con người như thế. Không cầm súng trực tiếp chiến đấu nơi chiến lũy, ông chọn chiếc máy ảnh làm phương tiện ghi lại những năm tháng kháng chiến gian khổ mà oanh liệt của dân tộc. Đặc biệt, trong những ngày Toàn quốc kháng chiến, giữa khói lửa chiến tranh và tinh thần quyết tử của quân dân Hà Nội, những bức ảnh của ông đã trở thành chứng nhân chân thực cho lòng yêu nước, ý chí kiên cường và khát vọng độc lập, tự do. Câu chuyện về Nguyễn Bá Khoản không chỉ là câu chuyện về một người nghệ sĩ nhiếp ảnh, mà còn là hành trình của một con người dùng ống kính để lưu giữ lịch sử, để những ký ức hào hùng của Thủ đô mãi được truyền lại cho các thế hệ mai sau.
"Anh chụp cho bọn em một tấm nhé. Dù có hy sinh, ít ra cũng còn lại hình trong ảnh của anh". Giữa chiến lũy trong ngày Toàn quốc kháng chiến, câu nói của một chiến sĩ trẻ khiến Nguyễn Bá Khoản nghẹn lời, rơi nước mắt và bấm máy. Khoảnh khắc ấy, Hà Nội rực sáng trong sự bi tráng bất khuất, còn ông trở thành chứng nhân trung thành của lịch sử Thủ đô…
Để hiểu hơn về cuộc đời và hành trình trở thành người lưu giữ những khoảnh khắc lịch sử của Thủ đô, trước hết, chúng ta hãy cùng tìm hiểu về tiểu sử và những dấu mốc đáng nhớ trong cuộc đời nhà nhiếp ảnh Nguyễn Bá Khoản. Ông sinh ngày 3 tháng 7 năm 1917 và mất năm 1993, ông là nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt I (1996). Thực tế, cái tên Nguyễn Bá Khoản vốn không xa lạ với những khán giả yêu mến lịch sử và nhiếp ảnh Việt Nam. Ông sinh tại thôn Liễu Viên (huyện Thường Tín cũ) của Hà Nội, cha làm nghề thợ mộc, thường xuyên lui tới nhiều nơi trong quá trình kiếm sống. Máu rong ruổi từ cha truyền lại, cộng thêm niềm say mê nghề ảnh, khiến Nguyễn Bá Khoản cầm máy rất sớm. 18 tuổi, ông đã tham gia hoạt động cách mạng trong lĩnh vực báo chí - và chỉ 2 năm sau (1937) đã có những tác phẩm đầu tiên cho ảnh báo chí cách mạng. Cách mạng Tháng Tám bùng nổ, Nguyễn Bá Khoản là phóng viên của Tổng bộ Việt Minh, hoạt động ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ, rồi tại Hà Nội trong dịp Toàn quốc kháng chiến (1946). Thời chống Pháp, ông cầm máy, có mặt ở khắp các chiến trường liên khu I, II, III, IV. Năm 1954, ông tham gia Ủy ban quân chính Hà Nội tiếp quản Thủ đô, sau đó công tác trong ngành văn hóa, rồi từ 1966 - 1972 làm phóng viên thuộc Ủy ban điều tra tội ác của đế quốc Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Ống kính của ông ghi lại từ cuộc biểu tình 1/5/1938 ở khu Đấu Xảo, Tổng khởi nghĩa 19/8, ngày Độc lập 2/9, đến những ngày Toàn quốc kháng chiến ở Hà Nội... Bên cạnh những bức ảnh, điều làm nên sức hút của cuốn sách còn là những mẩu chuyện về cuộc đời và những lần tác nghiệp của Nguyễn Bá Khoản qua lời đồng nghiệp và bè bạn. Ít ai biết, từ nhỏ, ông bị bệnh hen nặng - căn bệnh theo ông suốt cả đời. Vậy nhưng, năm 1939, ông vẫn đủ sức ròng rã cả năm đạp xe gần 5.000 km vòng quanh Đông Dương để viết bài và chụp ảnh. Nghị lực và tinh thần quả cảm đó in dấu trong suốt sự nghiệp cầm máy của ông sau này.
Như đồng nghiệp kể, thời chống Mỹ, có lần đang bị hen suyễn nặng, ông vẫn say nghề, leo cầu Long Biên ghi lại hình ảnh chiến đấu của bộ đội phòng không - không quân. Giữa chừng không thở được, ông ngồi thụp xuống bơm vội ống thuốc hen vào họng. Sự vất vả ấy gợi lại thời chống Pháp, khi ông làm việc trong buồng tối tự dựng ở Việt Bắc - nơi lá mục có lân tinh phát sáng được dùng để tráng phim, lá chuối khô để ép phim và bảo quản bằng gạo rang lót đầy hũ sành. Thêm vào đó, ông Chu Chí Thành (Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam), để có được bộ lịch sử bằng hình ấy trong hơn nửa thế kỷ làm nghề, người nghệ sĩ - chiến sĩ Nguyễn Bá Khoản đã cầm chắc vũ khí đặc biệt - chiếc máy ảnh cổ Prontor II. Đến nay, hàng ngàn bức ảnh của ông đã được cung cấp cho các bảo tàng, đơn vị lưu trữ tại Việt Nam, cũng như nhiều tổ chức văn hóa, lịch sử trên thế giới.
Ngày 2/9/1945 lịch sử, ông đứng giữa biển người, ôm chiếc máy ảnh, tim đập rộn ràng chờ đợi. Tới 1h30 chiều, Hồ Chủ tịch bước ra lễ đài. Nước mắt ông trào dâng. Nhưng lo lắng ập đến: mặt trời chếch ngang, tạo ánh sáng ngược chiếu vào ống kính - trở ngại khủng khiếp. Ông bình tĩnh thay tốc độ chụp, điều chỉnh độ mở, bấm liên tiếp. Khi về buồng tối, bàn tay run rẩy, ông hồi hộp nhìn từng khung hình hiện ra. Và thật kỳ diệu, những bức ảnh chân thực, rạng ngời, khắc họa khoảnh khắc lãnh tụ đọc bản Tuyên ngôn Độc lập. Với Nguyễn Bá Khoản, đó là giây phút sung sướng nhất đời, khi ông đã làm tròn sứ mệnh của mình.
Sự nghiệp của Nguyễn Bá Khoản không chỉ dừng ở việc được Đảng và Nhà nước ghi nhận qua Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I - 1996) và nhiều huân, huy chương quan trọng. Ông còn được nhiều đồng nghiệp và văn nghệ sĩ hâm mộ, kính trọng. Đã có hàng chục nhà văn, nhà báo như Như Phong, Xuân Thủy, Nguyễn Tuân, Quang Dũng, Ngô Quân Miện… viết về ông. Đồng thời, nhiều họa sĩ danh tiếng như Lê Lam, Nguyễn Sáng… đã vẽ chân dung ông, lấy cảm hứng từ cuộc đời giản dị mà hữu ích này.



