Anh hùng Lực lượng vũ trang

Người Mang Hai Mùa Lửa

Cha mẹ ông sinh được 4 người con. Người anh cả hoạt động trước cách mạng tháng 8/1945. Khi kháng chiến toàn quốc toàn quốc bùng nổ (tháng 12/1946), người anh cả là vệ quốc quân chiến đấu ở Hải Phòng. Năm 1948, người anh này hy sinh khi mới 22 tuổi.

Bắc Ninh05/03/2026Hoàng Thu Phương (Đoàn Trường Cao đẳng Công nghệ Việt-Hàn Bắc Giang)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ở tuổi 95, mái tóc đã bạc như mây cuối trời, Thiếu tướng Phan Văn Lai vẫn ngồi thẳng lưng trong buổi ra mắt hồi ký Chiến trường và Quê hương. 75 năm tuổi Đảng, một đời gắn với lực lượng Công an nhân dân, ông không xuất hiện như một nhân vật của quá khứ, mà như một nhịp cầu nối liền những mùa lửa đã xa với hiện tại đang bình yên.

Sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, Phan Văn Lai lớn lên giữa những câu chuyện về lòng trung nghĩa. Bốn anh em trai cùng nhập ngũ, hai người ngã xuống. Mẹ ông, cụ Lê Thị Mỵ, sau này được truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Trong ngôi nhà ấy, sự hy sinh không phải là khẩu hiệu, mà là điều hiện hữu trong từng bữa cơm vơi đi bóng dáng người thân.

Khi đất nước cần, ông lên đường “đi B”, trở thành một trong khoảng 12.000 cán bộ Công an chi viện chiến trường miền Nam. Trị Thiên Huế những năm ấy là một bản trường ca khói lửa. Sông Hương không chỉ soi bóng cầu Tràng Tiền, mà còn phản chiếu những cột khói bom. Phú Vang, vùng đất ông gắn bó suốt 12 năm, vừa hiền hòa vừa khắc nghiệt. Ở đó, mỗi tấc đất đều có thể trở thành trận địa, mỗi mái nhà đều có thể là nơi che giấu cán bộ.

Ông chiến đấu và công tác giữa vòng vây hiểm nguy, đối mặt với thiếu thốn trăm bề. Có những ngày lương thực cạn, có những đêm hành quân xuyên mưa rừng lạnh buốt. Nhưng điều ông nhớ nhất không phải là gian khổ của riêng mình. Trong hồi ký dày 344 trang, ông viết ít về bản thân, mà dành phần lớn để khắc họa đồng đội. Những Bảy Khiêm, Lê Văn Trĩ, đồng chí Tạo, đồng chí Mão… hiện lên không phải bằng những dòng ca ngợi ồn ào, mà bằng ký ức chân thực về sự gan góc và nghĩa tình.

Ông kể về những trận đánh tưởng chừng không cân sức, khi lực lượng mỏng phải đối đầu với kẻ thù trang bị tối tân. Ông kể về những lần bám dân, xây dựng cơ sở trong lòng địch, từng bước gây dựng phong trào. Nhưng giữa những trang viết đậm mùi thuốc súng, điều lắng lại là tình người. Nhân dân Phú Vang đã chở che, nuôi giấu, coi cán bộ như người thân. Chính sự gắn bó ấy là thành lũy bền vững nhất.

Sau ngày đất nước thống nhất, ông tiếp tục đảm nhiệm nhiều cương vị quan trọng: nguyên Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Xây dựng lực lượng CAND, nguyên Chánh Thanh tra Bộ Công an. Ở mỗi vị trí, ông vẫn giữ phong thái điềm đạm của người từng trải qua lửa đạn. Điều đáng tự hào không chỉ là quân hàm Thiếu tướng trên vai, mà còn là hình ảnh hai thế hệ trong một gia đình cùng mang quân hàm Tướng trong lực lượng Công an nhân dân. Con trai ông, Thiếu tướng Phan Quốc Thái, tiếp nối truyền thống ấy như một dòng chảy không ngừng.

Khi cầm bút viết Chiến trường và Quê hương, ông nói rằng mình viết để tri ân quê hương, đồng đội, những người thân đã ngã xuống, và để góp phần giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ sau. Cuốn sách không phải bản tổng kết chiến công, mà là lời nhắc về giá trị của ký ức. Nhà văn Đặng Vương Hưng nhận xét ông là một trong những tác giả cao tuổi nhất Việt Nam ra mắt sách đúng dịp các ngày lễ lớn, và đó là một cuốn sách thấm đẫm tinh thần nhân văn.

Ngoài sự nghiệp Công an, ông còn dành tâm huyết cho quê hương Trực Ninh. Với vai trò Chủ tịch Hội đồng hương tại Hà Nội, từ năm 2005 đến nay, ông đã vận động hơn 200 tỷ đồng xây dựng nông thôn mới. Ở tuổi xưa nay hiếm, ông vẫn đi lại, gặp gỡ, kết nối những tấm lòng. Lửa chiến trường năm nào giờ chuyển thành ngọn lửa trách nhiệm với cộng đồng.

Cuộc đời Thiếu tướng Phan Văn Lai như mang hai mùa lửa. Một mùa lửa của chiến trường Trị Thiên Huế, nơi tuổi trẻ ông được tôi luyện giữa khói bom. Và một mùa lửa của ký ức và nghĩa tình, khi ông cầm bút và chung tay xây dựng quê hương trong thời bình. Giữa hai mùa lửa ấy là một sợi chỉ đỏ mang tên trung thành và nhân ái.

Ở tuổi 95, ông không chỉ là chứng nhân lịch sử. Ông là người kể chuyện cho lịch sử, bằng giọng trầm tĩnh của một người đã đi qua chiến tranh mà vẫn giữ được sự hiền hậu. Những trang hồi ký khép lại, nhưng câu chuyện về ông vẫn mở ra, như một ngọn đèn đặt giữa hai bờ quá khứ và tương lai, để thế hệ sau nhìn vào đó mà hiểu rằng hòa bình hôm nay được dệt nên từ biết bao mùa hoa lửa.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Người Mang Hai Mùa Lửa | Câu chuyện thời hoa lửa