NGƯỜI MẸ ANH HÙNG ĐẶNG THỊ ĐÊ – TẤM GƯƠNG KIÊN TRUNG CỦA PHỤ NỮ NAM BỘ
Lịch sử cách mạng Việt Nam đã ghi dấu biết bao người con ưu tú đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong số đó, Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân Đặng Thị Đê là một tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước, đức hy sinh và tinh thần kiên trung của người phụ nữ Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc.
Đặng Thị Đê, bí danh Sáu Trầu, thường gọi là Sáu Đê, sinh năm 1915 tại xã Tân An, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh trong một gia đình nông dân nghèo. Cha mẹ của bà là ông Đặng Văn Hiển và bà Hồ Thị Cận. Sinh ra trên mảnh đất giàu truyền thống yêu nước, từ khi còn nhỏ bà đã chứng kiến cảnh nhân dân lầm than dưới ách thống trị của thực dân, phong kiến. Chính điều đó đã hun đúc trong bà tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh và khát vọng giành độc lập cho dân tộc.
Mùa Thu năm 1945, khi Cách mạng Tháng Tám thành công, bà cùng chồng là ông Nguyễn Văn Hựu, một giáo viên tiểu học giàu lòng yêu nước, tích cực tham gia hoạt động cách mạng. Trong khi ông Nguyễn Văn Hựu công tác tại cơ quan Quân sự tỉnh thì bà tham gia Hội Phụ nữ Cứu quốc xã Đa Lộc, huyện Châu Thành. Đây là những bước chân đầu tiên của bà trên con đường cống hiến cho sự nghiệp cách mạng.
Cuối năm 1945, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta. Trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến, người chồng thân yêu của bà đã anh dũng hy sinh. Nỗi đau mất chồng là một thử thách vô cùng lớn đối với người phụ nữ trẻ tuổi. Nhưng thay vì gục ngã, bà đã biến đau thương thành sức mạnh, tiếp tục dấn thân vào con đường cách mạng. Trở về quê hương Tân An, bà tích cực vận động nhân dân tham gia kháng chiến, xây dựng cơ sở cách mạng và được tín nhiệm giữ nhiều trọng trách quan trọng trong tổ chức Phụ nữ cứu quốc.
Với năng lực, tinh thần trách nhiệm và sự tận tụy với phong trào, bà lần lượt đảm nhiệm các chức vụ Tổ trưởng, Đoàn phó Phụ nữ cứu quốc xã Tân An. Năm 1947, bà vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là dấu mốc quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của bà. Cũng từ đây, bà được giao nhiều nhiệm vụ lớn hơn, từ Đoàn phó Phụ nữ cứu quốc huyện Càng Long đến Đoàn phó Phụ nữ cứu quốc tỉnh Trà Vinh.
Năm 1951, khi hai tỉnh Trà Vinh và Vĩnh Long hợp nhất thành tỉnh Vĩnh Trà, bà tiếp tục được tín nhiệm giữ chức Đoàn phó Phụ nữ cứu quốc tỉnh. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, trong khi nhiều cán bộ tập kết ra Bắc, bà được tổ chức phân công ở lại miền Nam hoạt động bí mật. Giữa muôn vàn khó khăn, hiểm nguy, bà vẫn kiên cường bám đất, bám dân, giữ vững cơ sở cách mạng với cương vị phụ trách công tác Phụ vận của tỉnh Trà Vinh.
Tháng 5 năm 1955, bà được bầu vào Tỉnh ủy Trà Vinh và giữ chức Hội trưởng Hội Phụ nữ tỉnh. Tuy nhiên, dấu ấn nổi bật nhất trong cuộc đời hoạt động của bà chính là thời gian phụ trách công tác giao thông liên lạc của Khu Tây Nam Bộ.
Tháng 2 năm 1957, bà được điều động giữ chức Phó Ban Giao thông công khai miền Tây. Đến tháng 2 năm 1959, bà được giao nhiệm vụ Trưởng Ban Giao thông công khai Khu Tây Nam Bộ. Đây là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, bởi giao thông liên lạc được xem là “mạch máu” của cách mạng. Trong điều kiện địch liên tục càn quét, kiểm soát gắt gao, bà đã trực tiếp lãnh đạo mạng lưới giao liên hoạt động hiệu quả, bảo đảm an toàn cho việc vận chuyển tài liệu mật, vũ khí, thư từ và đưa đón hàng ngàn lượt cán bộ qua lại giữa các chiến trường.
Với sự mưu trí, dũng cảm và tinh thần trách nhiệm cao, bà đã góp phần quan trọng vào việc duy trì sự chỉ đạo thông suốt của Đảng đối với phong trào cách mạng miền Tây Nam Bộ. Những đóng góp thầm lặng nhưng vô cùng to lớn ấy đã giúp bảo vệ nhiều cán bộ lãnh đạo và giữ vững phong trào đấu tranh trong những năm tháng ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Sau hơn mười năm hoạt động liên tục trong điều kiện gian khổ, sức khỏe của bà suy giảm nghiêm trọng. Đầu năm 1969, bà lâm bệnh nặng và được tổ chức đưa ra miền Bắc điều trị, sau đó tiếp tục chữa bệnh tại Bắc Kinh, Trung Quốc. Dù ở nơi xa Tổ quốc, trái tim bà vẫn luôn hướng về miền Nam ruột thịt.
Năm 1973, khi sức khỏe vừa hồi phục, bà đã tha thiết xin được trở lại chiến trường miền Nam để tiếp tục công tác. Nguyện vọng ấy được chấp thuận và bà được phân công công tác tại Ban Tổ chức Trung ương Cục miền Nam cho đến ngày đất nước hoàn toàn giải phóng vào mùa Xuân năm 1975.
Sau ngày thống nhất đất nước, bà tiếp tục phục vụ cách mạng tại Nhà Bảo tàng Phụ nữ miền Nam cho đến khi nghỉ hưu năm 1978. Dù ở bất kỳ cương vị nào, bà cũng luôn giữ vững phẩm chất của người cán bộ cách mạng mẫu mực, tận tụy và hết lòng vì nhân dân.
Với những cống hiến đặc biệt xuất sắc cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, Đảng và Nhà nước đã phong tặng bà danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân, cùng nhiều phần thưởng cao quý như Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương khác.
Năm 2000, sau một thời gian lâm bệnh, mẹ Đặng Thị Đê từ trần, hưởng thọ 85 tuổi. Tuy đã đi xa nhưng cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vẻ vang của mẹ vẫn mãi là tấm gương sáng cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
Câu chuyện về mẹ Đặng Thị Đê nhắc nhở mỗi đoàn viên, thanh niên hôm nay phải biết trân trọng những hy sinh của các thế hệ đi trước; không ngừng rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, tinh thần trách nhiệm và khát vọng cống hiến để xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh.



