Bài viết

NGƯỜI MẸ ANH HÙNG “HAI LẦN TIỄN CON ĐI”

An Giang01/07/2026Đoàn xã Ngọc Chúc (Đoàn xã Ngọc Chúc)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong căn nhà nhỏ ở xã Nghi Thịnh, huyện Nghi Lộc (nay là xã Đông Lộc, tỉnh Nghệ An), câu chuyện về mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thậy vẫn luôn rộn ràng, ấm áp như chưa bao giờ vơi. Với bà con lối xóm, nhắc đến mẹ là nhắc đến niềm tự hào sâu sắc về một người mẹ kiên trung, về một gia đình giàu truyền thống cách mạng, đã góp phần viết nên những trang sử đầy tự hào của quê hương.

Bên tách trà nóng tỏa khói, ông Võ Văn Hoan - người con trai út của mẹ Nguyễn Thị Thậy - chậm rãi kể lại cuộc đời nhiều hy sinh, chất chứa biết bao nỗi đau thầm lặng của mẹ.

Ông nâng niu mở ra từng kỷ vật, những bức thư gửi mẹ đã ngả màu theo năm tháng nhưng nét chữ vẫn vẹn nguyên, như còn đọng lại bao yêu thương, nhớ mong của những người con. Giọng ông trầm xuống, đọc từng dòng thư một cách chậm rãi, để từng con chữ như sống lại, lan tỏa cảm xúc lặng lẽ mà sâu sắc trong không gian.

Mẹ Nguyễn Thị Thậy sinh năm 1910. Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, mẹ Nguyễn Thị Thậy tích cực tham gia hoạt động trong tổ chức phụ nữ của xã. Đến năm 1952, mẹ được tín nhiệm giao nhiệm vụ Tổ trưởng phụ nữ. Cùng chồng là ông Võ Văn Lưu, mẹ nhiều lần tham gia rải truyền đơn, làm công tác tuyên truyền cho cách mạng. Dẫu biết phải đối mặt với hiểm nguy, mẹ vẫn một lòng son sắt, tận tâm với Đảng, với đất nước. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mẹ luôn kiên cường lao động sản xuất tại hợp tác xã, nuôi 8 người con khôn lớn. Ngôi nhà nhỏ của mẹ cũng trở thành nơi họp bàn, trao đổi thông tin của các chiến sĩ cách mạng trên địa bàn.

Ông Võ Văn Hoan chia sẻ thêm một ký ức đặc biệt về mẹ: “Đã có thời gian mẹ phải đi phu phen cho Pháp. Trong những ngày bốc đá làm sân bay Vinh, mẹ tận mắt chứng kiến cảnh thực dân Pháp bóc lột, đày đọa nhân dân ta đến cùng cực. Chính từ những trải nghiệm ấy, mẹ thường kể lại cho chúng tôi nghe những câu chuyện chân thực mà sâu sắc, gieo vào lòng chúng tôi tình yêu nước và lòng căm thù giặc. Những lời dạy của mẹ tuy mộc mạc, ngắn gọn nhưng thấm thía, trở thành bài học quý giá, lặng lẽ nuôi dưỡng chúng tôi trưởng thành qua từng bữa cơm, từng ngày tháng”.

Năm 1946, mẹ tiễn con trai cả - anh Võ Văn Hiến (sinh năm 1928) lên đường nhập ngũ. Anh chiến đấu trên chiến trường Đồng bằng Bắc Bộ, ngày 8-1-1954, anh đã anh dũng hy sinh tại mặt trận Ninh Bình, trong đội hình Trung đoàn 105, thuộc bộ đội địa phương tỉnh Nam Định. Nỗi đau đầu tiên khắc sâu trong tim mẹ, lặng lẽ mà nhói buốt.

Chưa kịp nguôi ngoai, năm 1961, mẹ lại một lần nữa tiễn người con trai thứ tư - anh Võ Thanh Hồ (sinh năm 1941) lên đường ra trận. Anh chiến đấu tại chiến trường Nam Trung Bộ. Ngày 1-9-1966, anh hy sinh tại suối Đa Tượng, xã Ân Nghĩa, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.

Hai lần tiễn con đi là hai lần mẹ gửi cả trái tim mình theo bước chân con ra trận. Và cũng hai lần, mẹ lặng lẽ đón nhận những tờ giấy báo tử, những vết cắt không lời, cứa sâu vào lòng người mẹ. Nhắc về những mất mát ấy, ông Võ Văn Hoan nhớ lại, mẹ đã từng nghẹn ngào nói: “Chiến tranh thật tàn khốc, đã cướp đi những người con mà mẹ yêu thương nhất. Nhưng vì độc lập, tự do của dân tộc, mẹ sẵn sàng hiến dâng tất cả”. Có những lần, nước mắt như cạn khô khi mẹ cầm trên tay tờ giấy báo tử. Mẹ gói ghém tất cả, gồng mình sống tiếp nuôi dạy chúng tôi khôn lớn.

Một kỷ vật có ý nghĩa hết sức to lớn đối với gia đình ông, là những bức thư của anh Võ Thanh Hồ gửi về cho mẹ, trong đó có bài thơ liệt sĩ viết dành tặng riêng cho mẹ mang tên “Bài thơ gửi mẹ”. Trong đó có đoạn viết:

“Tiếng nói lòng con như sóng biển

Dưới nắng chiều cuồn cuộn trào dâng

Tha thiết bao nhiêu tình phụ mẫu dạt dào

Đã gắn chặt tim con từ thuở bé

... Nhớ giọng ru mẹ ngân mãi giữa đêm trường

... Con nguyện làm sắc đẹp của chồi xanh

Vươn vươn mãi trên cành cây của Đảng

Dòng sông Lam cứ xuôi dòng lai láng

Có lúc đầy cũng có lúc vơi

Nhưng lòng con chỉ có một mà thôi

Vì nhân loại mà con chiến đấu”

Ghi nhận công lao của mẹ Nguyễn Thị Thậy trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, năm 1979, Đảng, Nhà nước đã tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhì. Năm 1997, mẹ Nguyễn Thị Thậy qua đời, để lại niềm tiếc thương sâu sắc cho gia đình và bà con quê hương. Năm 2021, mẹ được truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.

22. CHUYỆN KỂ VỀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG NGUYỄN THỊ THÌN

Chiến tranh đã lùi xa nhiều thập kỷ, mảnh đất bốt Phùng loang lổ vết đạn năm xưa nay đã thay da đổi thịt, nhưng khi chạm vào ánh mắt rưng rưng của người con gái út mẹ Thìn, tôi chợt nhận ra có những nỗi đau chưa từng ngủ yên.

Từ cuốn băng ghi âm cuộc phỏng vấn, những ký ức chắp vá của bà Nguyễn Thị Phúc (sinh năm 1943) - người con gái út của Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thìn (1904-1988) đã giúp tôi dựng lại chân dung trọn vẹn về một tượng đài lặng lẽ - người mẹ vĩ đại đã vắt kiệt những giọt nước mắt cuối cùng cho nền độc lập.

Tấm bia đá giấu vội

Giữa nhịp sống hối hả của phố thị, trong căn nhà nhỏ tại phố Đội Cấn, có một miền ký ức về làng Hạnh Đàn, xã Tân Lập, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Đông (nay là xã Ô Diên, TP Hà Nội) vẫn luôn được gìn giữ vẹn nguyên qua lời kể của bà Nguyễn Thị Phúc - người con gái út của mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thìn.

Tôi ngồi trò chuyện với bà Phúc trong buổi chiều tĩnh lặng. Giọng nói bà nghẹn ngào đưa tôi về những năm tháng đầy biến động của gia đình. Trong trí nhớ non nớt của cô bé 8 tuổi ngày ấy, mẹ Thìn là người phụ nữ tần tảo, tất bật bên khung cửi dệt vải và những sào ruộng, gồng gánh nuôi 4 người con khôn lớn.

Năm 1949, giông bão ập xuống nếp nhà bình yên ấy. Người con cả Nguyễn Đạt Lư (1926-1949), khi ấy mới 23 tuổi, một thanh niên trí thức thạo tiếng Pháp, làm vỏ bọc thợ gò thiếc ở phố Hàng Mắm để hoạt động cách mạng ngầm, bị địch bắt. Tại bốt Phùng hay còn gọi là cái đồn Tây, giữa những trận đòn roi thừa sống thiếu chết, ông Lư chỉ để lại lời dặn dò đồng đội: “Thôi các anh các chị ơi, giữ vững bản lĩnh nhé!” rồi anh dũng hy sinh.

Bà Phúc kể lại cho tôi nghe khoảnh khắc mẹ Thìn nhận giấy báo tử. Không có những tiếng gào thét, nỗi đau của người mẹ mất con lặn sâu vào đáy mắt. Mẹ cùng người bác ruột đi thuê thợ khắc một tấm bia đá nhỏ, rồi giữa vòng vây kẻ thù, lên tận bốt Phùng để đánh dấu nấm mồ đất vùi xác con.

Mẹ làm thế với một niềm tin xót xa và khắc khoải: Ngày hòa bình, mẹ sẽ lên tận nơi bốc cốt con về. Thế nhưng, thời gian và đạn bom đã san phẳng bốt Phùng thành những bờ vùng bờ thửa, nấm mồ mang theo tấm bia đá chứa đựng vạn niềm thương của mẹ cũng bặt tăm. Nỗi day dứt vì để khúc ruột của mình nằm bơ vơ dưới lớp đất lạnh lẽo cứ bám riết lấy mẹ Thìn suốt phần đời còn lại. Mẹ đâu biết rằng, phải đến 63 năm sau (năm 2012), hài cốt của ông Lư mới được con cháu tìm thấy dưới một vườn chuối để đưa về nghĩa trang quê nhà.

Giọt nước mắt cạn khô trên bộ đồ cưới lụa

Trong cuốn sổ tay của tôi ngày hôm ấy, nhòe đi vì một chi tiết quá đỗi ám ảnh. Tang người con cả chưa mãn, vành khăn trắng trên đầu chưa kịp ngả màu, thì đúng một năm sau (1950), trái tim mẹ Thìn lại một lần nữa bị bóp nghẹt.

Người con trai thứ hai, tiểu đội trưởng Nguyễn Đạt Linh (1929-1950), hy sinh khi ngày vui đã cận kề. Chỉ còn nửa tháng nữa là anh Linh cưới vợ. Mẹ tôi đã sắm sửa, chuẩn bị tươm tất mọi đồ sính lễ”, giọng bà Phúc chùng xuống.

Trong trận càn quét ác liệt vào ngày mồng 2 tháng 9 âm lịch năm 1950, để bảo vệ đồng đội bị thương và người liên lạc viên nhỏ tuổi xuống hầm trú an toàn, anh Linh là người xuống hầm cuối cùng, khi bị địch lùng sục và phát hiện đã chọn cách rút lựu đạn tự sát ngay dưới hầm.

"Mới mồng 1 anh còn tạt về ăn vội bữa cơm với bố mẹ, hôm sau anh đã “rời bỏ” mọi người", bà Phúc nghẹn ngào nói. Hai đứa con trai dứt ruột đẻ ra, những điểm tựa vững chãi nhất của gia đình, lần lượt ngã xuống chỉ cách nhau vỏn vẹn một năm. Chị gái lớn thì mất sớm vì bạo bệnh. Căn nhà ở Hạnh Đàn bỗng chốc trống hoác, chỉ còn lại hai ông bà già ốm yếu và đứa con gái út.

Nghe bà Phúc kể, tôi như thấy hiện lên trước mắt hình ảnh một người mẹ gầy guộc, lầm lũi trong những buổi chiều nhạt nắng. Thi thoảng, mẹ Thìn lại lôi hòm đồ cũ ra, lấy bộ khăn nhung, chiếc áo dài và những món đồ sính lễ đã chuẩn bị cho con trai ra sân phơi. Mẹ vuốt ve từng nếp lụa, từng đường chỉ thêu. Mẹ không gào khóc, nhưng những giọt nước mắt đục ngầu cứ thế lã chã rỏ xuống nền gạch sân. Mẹ khóc vì tiếc thương những đứa con kiên cường, mẹ khóc cho một người con dâu chưa từng được cưới xin, khóc cho một hạnh phúc lứa đôi vĩnh viễn vỡ vụn.

Gác lại niềm đau

Đi qua hai nỗi mất mát lớn nhất cuộc đời, ông bà cụ Thìn ốm đau triền miên. Nhưng kỳ lạ thay, chính tình yêu nước và sự đùm bọc của những người ở lại đã níu người mẹ đau khổ ấy đứng dậy.

Làng Hạnh Đàn ngày ấy có nghề nông và dệt vải. Khép lại nỗi đau, tiếng thoi đưa “lách cách” trên khung cửi của mẹ Thìn lại tiếp tục vang lên. Ngày ông Lư, ông Linh còn sống, mẹ thường đùm nắm gạo, củ khoai cho các con mang đi hoạt động. Khi các con đã hy sinh, những nắm gạo ấy mẹ dành trọn cho đồng đội của con.

Bà Phúc nhớ lại: “Anh em đồng đội thương bố mẹ tôi mất con, thường xuyên ghé qua thăm hỏi. Cụ hiền lành và nhân hậu lắm, ai đến cũng giữ chặt tay, nhất quyết bắt ở lại ăn bữa cơm đạm bạc. Cụ chăm sóc họ như chính con ruột của mình”. Trái tim người mẹ dù đã chi chít vết thương rỉ máu, vẫn đủ rộng lớn để bao bọc chở che cho những người lính trẻ. Mỗi lần nhìn những thanh niên trạc tuổi con mình khoác ba lô bước vào sân, hẳn mẹ Thìn lại thấy đâu đó bóng dáng của Lư, của Linh trở về.

Tháng 12-2016, mẹ Nguyễn Thị Thìn đã được Nhà nước truy tặng danh hiệu "Bà mẹ Việt Nam Anh hùng".

Cả cuộc đời mẹ là một bản hùng ca không lời, được viết bằng những giọt nước mắt cạn khô trên khung cửi, bằng tình yêu thương vô bờ bến dệt nên hình hài Tổ quốc hôm nay.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn