NGƯỜI MẸ ANH HÙNG YÊU THƯƠNG
Khúc hát ấy vang lên như vọng lại trong tôi hình ảnh của bao tháng năm dài lịch sử, những ngôi làng rực đỏ trong lửa khói, những chiến trường tanh nồng mùi máu tươi và xen lẫn đâu đó còn là bóng hình thân thương của những người mẹ lưng còng tần tảo chờ con qua bao năm dài chiến đấu. Biểu tượng ấy đã trở vệt màu loang trong tim của bao người con đất Việt, khi ấy bóng dáng người mẹ Việt Nam Anh hùng-Nguyễn Thị Thứ hiện lên ôi sao thật chua xót và khắc khoải, khiến dòng lệ trào trong tôi lại càng
Có những bản tráng ca vang lên đã đi vào huyền thoại, cũng có những tiếng hát trong ngân mang theo vóc dáng oai hùng:
“Người mẹ ấy tìm con giữa tiếng reo dân tộc
Người vợ ấy tìm chồng giữa đám đông
Hòa bình đến rồi sao anh vẫn chưa trở về
Giữa tiếng cười, mình mẹ rơi nước mắt.”
(Nỗi Đau Giữa Hoà Bình – Phim Mưa Đỏ)
Khúc hát ấy vang lên như vọng lại trong tôi hình ảnh của bao tháng năm dài lịch sử, những ngôi làng rực đỏ trong lửa khói, những chiến trường tanh nồng mùi máu tươi và xen lẫn đâu đó còn là bóng hình thân thương của những người mẹ lưng còng tần tảo chờ con qua bao năm dài chiến đấu. Biểu tượng ấy đã trở vệt màu loang trong tim của bao người con đất Việt, khi ấy bóng dáng người mẹ Việt Nam Anh hùng-Nguyễn Thị Thứ hiện lên ôi sao thật chua xót và khắc khoải, khiến dòng lệ trào trong tôi lại càng trở nên dữ dội mạnh mẽ.
Tôi đã phải nghẹn lòng, cảm giác như vừa bị bóp nghẹt bởi một thứ gì đó rất nặng nề, tôi xin thành khẩn nghiêng mình gọi cụ bà Nguyễn Thị Thứ bằng hai từ “ Mẹ Thứ ” thân thương...Suốt 30 năm, Mẹ cần mẫn đào hầm trong vườn để nuôi giấu chiến sĩ cách mạng hoạt động bí mật ngay trong lòng địch. Bao đêm dài Mẹ thao thức canh nhiều cuộc họp quan trọng của cán bộ, chiến sĩ ngay dưới những căn hầm trong vườn nhà, những khi an toàn mẹ vẫn thường cùng các con hé mở cửa hầm cho các anh chiến sĩ được hít thở. Dẫu hoàn cảnh gia đình nghèo khó nhưng Mẹ luôn nuôi nấng những đứa con một cách tốt nhất, rồi khi đất nước lâm nguy, rơi vào tay giặc Pháp Mẹ cũng như bao người khác, nén chặt nỗi đau gửi chồng ( ông Lê Tự Trị ) và con lên đường, mong chờ ngày toán thắng trở về cùng các con sum họp.
Trước hiên nhà lợp rơm xứ Quảng, Mẹ nhẹ tay buộc dải khăn đỏ lên vai con, không khóc, Mẹ chỉ dặn: “Còn nước mình thì còn nhà mình.” Câu nói cất lên rất nhẹ nhằng nhưng để lại bão lòng trong Mẹ Thứ. Biết trước chiến tranh là không hẹn ngày gặp lại, là “ Máu thấm cỏ, lời ca bay vào đất” nhưng Mẹ vẫn thiết tha với non sông, chọn hy sinh tất cả cuộc đời mình cho Tổ Quốc. Từ đó, từng đứa con lần lượt ra đi và “không trở lại”. Lần lượt người con thứ ba, Lê Tự Xuyến, giao liên, hy sinh năm 1948, chưa đầy mười ngày sau, người con thứ tư, Lê Tự Hàn, cũng đã ngã xuống khi đang tải thương rồi đến người con thứ năm, Lê Tự Hãn, thứ sáu, Lê Tự Lem, thứ bảy, Lê Tự Nự, cũng đã mãi mãi nằm lại trong vòng tay nồng ấm của đất mẹ hiền hoà.
Vào mùa hè đỏ lửa năm 1972, khi nhận tin hai người con, Lê Tự Mười và Lê Thượng Trịnh cùng hy sinh, Mẹ đã lịm đi, vô cùng hụt hẫng. Cứ ngỡ Mẹ sẽ suy sụp, nát tan nhưng khi tỉnh lại Mẹ liền dặn con gái: “Lo hương khói cho anh, rồi tiếp tục nuôi quân”.Mẹ Thứ vẫn luôn cống hiến không ngừng cho đất nước, cho cả những nỗi đau mà các con Mẹ đã chịu đựng, để các con không phải lo lắng cho quê hương ở nơi xa xôi, vắng lặng. Có lúc Mẹ khấp khởi mong ngày người con trai cả, anh Lê Tự Truyện, trở về khi chiến dịch giải phóng Sài Gòn tiến đến hồi kết để ôm chặt con vào lòng. Nhưng sự tàn ác của chiến tranh đã cướp đi hi vọng của Mẹ chỉ vài giờ trước thời khắc đất nước hoàn toàn thống nhất.
Không chỉ các con, con rể của mẹ, ông Ngô Tường, cũng bị giặc Pháp tra tấn đến kiệt sức và qua đời năm 1956. Hai cháu ngoại, Ngô Thị Cúc và Ngô Thị Điều, lần lượt hy sinh trong mưa bom bão đạn những năm 1973 và 1974, khi tuổi đời còn rất trẻ. Có những người đến viếng thăm, chia buồn cùng Mẹ, Mẹ bảo: “ Mẹ còn hơi thở là còn lo cho cách mạng ” nhưng mỗi khi nhận được tờ giấy báo tử tim Mẹ lại quặng thắt như có một nhát dao cứa sâu vào lòng. Nhưng mẹ không gục ngã. Mẹ cắn răng chịu đựng, nuốt nước mắt vào trong, âm thầm biến đau thương thành lửa, lửa của lòng tin yêu đất nước, lửa của một trái tim không khuất phục, lửa nung chảy nỗi căm thù để tiếp tục tiếp sức cho kháng chiến.
Những bữa cơm sum vầy với tiếng cười, tiếng nói rộn rã nay đã không còn nữa, căn nhà Mẹ điềm nhiên yêu tĩnh đến lạ thường, và lòng Mẹ dường như cũng đang khắc khoải, băn khoăn. Mẹ lặng lẽ ngồi bên mâm cớm với 9 bát cơm đầy , 9 đôi đũa dành cho 9 đứa con mẹ yêu thương, nhưng giờ đã không còn được nghe các con gọi tiếng mẹ, không được nhìn dáng vẻ các con cùng tận hưởng bữa cơm gia đình, chỉ có mẹ và chiếc lư hương lặng lẽ, điểm vào ấy là 9 nén hương vẫn còn nghi ngút khói, xộc vào khoé mắt cay cay, làm Mẹ ứa ra những giot lệ nghẹ ngào.
Tổ quốc vẫn luôn ghi nhớ công ơn, sự mạnh mẽ và lòng kiên trung của Mẹ về sự cho đi tất cả của cuộc đời mình. Tháng 7 ‑ 1994, Chủ tịch nước ký quyết định phong tặng Mẹ Thứ danh hiệu mẹ Việt Nam Anh hùng, năm 2009, tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng trên núi Cấm, Tam Kỳ được khởi công, lấy nguyên mẫu gương mặt Mẹ khối đá hoa cương dài 120 m, cao 18,6 m, xác lập kỷ lục ASEAN và đặt têb con đường mang tên “Mẹ Thứ” ở thị trấn Vĩnh Điện ngày nay.
Mẹ đã đoàn tụ với chồng và các con liệt sĩ vào ngày 10/12/2010. Đã 16 năm trôi đi nhưng hình ảnh Mẹ vẫn còn mãi trong trái tim chúng con, những người sống trong hoà bình nhờ công ơn người thân Mẹ đỗ xuống. Những gì Mẹ cống hiến cho Tổ quốc sẽ mãi mãi là một tấm gương sáng cho các thế hệ noi theo và cho thế hệ trẻ chúng con phấn đấu, hoàn thiện hơn từng ngày.
Dưới nền trời rực rỡ của sắc cờ đỏ sao vàng, chúng con-những mầm xanh đất nước, xin nguyện thề trước linh hồn mẹ, tượng đài mẹ, chúng con sẽ ra sức gìn giữ và bảo vệ non sông gấm vóc mà mẹ và các con mình đã dùng máu để đánh đổi. Mẹ ơi! Hãy yên lòng nằm lại nơi đất thánh, để chúng con được yêu thương che chở mẹ đến giây phút cuối cùng... Mẹ hỡi!


