NGƯỜI MẸ BÊN HẦM BÍ MẬT
Tôi là Bùi Thị Năm, sinh năm 1935, quê ở Củ Chi. Khi chiến tranh ác liệt nhất, tôi đã là mẹ của ba đứa con. Chồng tôi hy sinh sớm, một mình tôi vừa làm ruộng, vừa nuôi con, vừa tham gia nuôi giấu cán bộ trong căn hầm bí mật dưới nền bếp.
Nhà tôi khi ấy chỉ là một căn nhà lá nhỏ, xung quanh có vườn chuối, bụi tre và mấy luống khoai. Nhìn bên ngoài, chẳng ai nghĩ dưới nền bếp lại có một căn hầm đủ cho ba người trú ẩn. Miệng hầm được che bằng tấm ván, bên trên đặt bếp củi. Mỗi khi có cán bộ về, tôi nấu cơm, canh gác, đưa thư và che mắt địch bằng vẻ ngoài của một người đàn bà quê mùa chỉ biết lo bữa ăn cho con.
Tôi sợ chứ. Tôi là mẹ, tôi sợ con mình bị bắt, sợ nhà bị đốt, sợ những người dưới hầm bị phát hiện. Nhưng mỗi lần nghĩ đến chồng, đến làng xóm bị càn quét, đến những người con trai con gái rời quê đi đánh giặc, tôi lại tự nhủ: “Mình còn sống thì còn phải góp sức.”
Trong số những cán bộ từng ở hầm nhà tôi, tôi nhớ nhất anh Nguyễn Văn Thành, sinh năm 1942, quê tận miền Bắc. Anh gọi tôi là má Năm. Anh gầy, da xanh vì sốt rét, nhưng mắt rất sáng. Mỗi lần ăn cơm, anh đều ăn rất chậm, như sợ làm phiền tôi. Tôi thường mắng yêu: “Ăn mạnh vô con, bộ đội mà ăn như mèo sao đánh giặc được?” Anh cười, cúi đầu ăn thêm một bát.
Một buổi sáng, khi tôi vừa nhóm bếp thì nghe tiếng chó sủa dồn dập ngoài ngõ. Địch càn vào ấp. Tôi vội ra hiệu cho anh Thành và hai đồng chí khác xuống hầm. Ba đứa con tôi được dặn ngồi im trong buồng. Tôi đặt nồi khoai lên bếp, lấy tro phủ kín miệng hầm, tim đập thình thịch.
Bọn lính xông vào nhà, lục tung mọi thứ. Một tên hỏi tôi có thấy cán bộ không. Tôi giả vờ run rẩy, nói mình chỉ có mấy mẹ con, chồng chết rồi, quanh năm làm ruộng. Chúng không tin. Chúng dùng báng súng đập vỡ chum nước, chọc lưỡi lê vào đống rơm, lật cả giường chiếu.
Một tên dừng lại bên bếp. Nó nhìn nồi khoai đang sôi rồi hỏi: “Nấu nhiều vậy cho ai ăn?” Tôi đáp: “Nhà đông con, lại nấu cho heo nữa.” Nó cười gằn, lấy chân đá vào bếp. Than đỏ văng ra, khói bốc lên. Dưới nền bếp, chỉ cách miệng hầm một lớp đất mỏng, ba người đang nín thở. Tôi sợ đến mức hai chân muốn khuỵu xuống, nhưng vẫn cố cúi nhặt củi như không có chuyện gì.
Bất ngờ, đứa con út của tôi khóc ré lên vì sợ. Một tên lính quay lại định bước vào buồng. Tôi lao tới ôm con, giả vờ mắng: “Nín đi! Khóc hoài tao đánh bây giờ!” Rồi tôi quay sang bọn lính, than thở rằng con tôi đói quá nên khóc. Có lẽ chúng chán, hoặc không tìm được gì, nên bỏ đi sau khi lấy mấy con gà và đốt một góc vách nhà.
Khi tiếng chân chúng xa dần, tôi mới dám mở hầm. Anh Thành bước lên, mặt tái nhợt. Anh nắm tay tôi, nghẹn giọng: “Má Năm, tụi con đội ơn má.” Tôi xua tay: “Ơn nghĩa gì. Còn sống là còn lo cho nhau.”
Nhưng chiến tranh không buông tha ai dễ dàng. Ít lâu sau, anh Thành hy sinh trong một trận chống càn gần bờ kênh. Đồng đội đưa về cho tôi chiếc khăn rằn anh vẫn quấn cổ. Tôi ôm chiếc khăn, thấy như mất thêm một đứa con.
Sau ngày giải phóng, căn hầm dưới bếp nhà tôi được giữ lại làm kỷ niệm. Nhiều người đến xem, hỏi tôi khi ấy có sợ không. Tôi bảo có, sợ lắm. Nhưng lòng thương nước, thương người lớn hơn nỗi sợ. Một người mẹ có thể run trước họng súng, nhưng vẫn biết lấy thân mình che miệng hầm cho những đứa con của đất nước.
Bây giờ tôi đã già, căn nhà lá xưa không còn nữa. Nhưng mỗi khi nghe tiếng bếp lửa reo, tôi lại nhớ buổi sáng năm ấy, nhớ nồi khoai sôi trên miệng hầm, nhớ ánh mắt anh Thành khi gọi tôi là má. Với tôi, thời hoa lửa không chỉ có súng nổ ngoài chiến trường. Nó còn có cả những người mẹ âm thầm giữ lửa trong căn bếp nhỏ, để dưới lòng đất, niềm tin vẫn được che chở và sống còn.


