NGƯỜI MẸ CỦA VÙNG ĐẤT BỬU LONG VÀ HAI NGƯỜI CON TRỌN ĐỜI VÌ ĐẤT NƯỚC
Mẹ Võ Thị Tám (1878–1949) sinh năm Canh Dần (1878), tại làng Bửu Long, tổng Phước Vĩnh Trung, quận Châu Thành, tỉnh Biên Hòa xưa (nay thuộc phường Bửu Long, tỉnh Đồng Nai), trong một gia đình nông dân nghèo. Lớn lên giữa cuộc sống lam lũ, mẹ lập gia đình với một người nông dân quê ở Thạnh Phước, Tân Uyên. Vợ chồng mẹ chọn Bửu Long làm nơi sinh sống, dựng xây mái ấm và lần lượt sinh được hai người con trai là Mai Văn Khuê (1910) và Mai Văn Khoan (1912).
Cuộc sống gia đình vốn đã khó khăn, nhưng biến cố bất ngờ ập đến khi chồng mẹ tham gia hội kín Trại Lâm Trung – một tổ chức yêu nước hoạt động chống thực dân Pháp ở Biên Hòa đầu thế kỷ XX. Năm 1914, Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ. Thực dân Pháp ra sức vơ vét sức người, sức của từ các thuộc địa để phục vụ cuộc chiến ở châu Âu. Những thanh niên thuộc địa bị bắt đưa sang Pháp làm bia đỡ đạn, sau này được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lên án bằng khái niệm đầy đau xót: “thuế máu”.
Trước chính sách bắt lính hà khắc của thực dân Pháp, những người yêu nước ở Biên Hòa đã đứng lên đấu tranh. Đầu năm 1916, nghĩa quân Trại Lâm Trung tổ chức tiến công các nhà hội ở Tân Trạch, Tân Khánh, Tân Lương và một số địa điểm khác, đồng thời phối hợp với lực lượng tù nhân nổi dậy tại khám đường Biên Hòa, giải thoát nhiều thanh niên bị giam giữ để đưa đi phục dịch chiến tranh. Tuy nhiên, phong trào bị thực dân Pháp tập trung lực lượng đàn áp. Nhiều nghĩa quân bị bắt, tra tấn và kết án nặng nề; chín người đứng đầu Trại Lâm Trung bị xử tử tại Dốc Sỏi. Chồng mẹ may mắn trốn thoát, chạy xuống vùng Cần Thơ lánh nạn rồi biệt tin từ đó.
Từ ngày chồng rời đi, mẹ một mình gánh vác gia đình, nuôi hai con thơ giữa cảnh thiếu thốn. Để có tiền trang trải cuộc sống, mẹ phải gánh cơm rượu, sương sa hột lựu đi bán rong khắp xóm làng. Công việc vất vả, thu nhập chẳng được bao nhiêu, nhưng mẹ vẫn kiên trì tảo tần, chắt chiu từng đồng để nuôi các con khôn lớn. Khi hai con trưởng thành, mẹ mới kể rõ cho các con biết về tông tích, cội nguồn và những biến cố đã xảy đến với gia đình. Có lẽ, mẹ hiểu rằng con đường yêu nước mà cha các anh đã lựa chọn cũng chính là một phần lịch sử cần được tiếp nối.
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, phong trào Thanh niên Tiền phong từ Sài Gòn nhanh chóng lan rộng đến Biên Hòa và nhiều địa phương Nam Bộ. Hai người con của mẹ là Ba Khuê và Tư Khoan lập tức tham gia phong trào. Dù đã có gia đình riêng, các anh vẫn hăng hái tập luyện, hòa mình vào khí thế sôi nổi của thanh niên làng Bửu Long, sẵn sàng góp sức cho sự nghiệp giành độc lập dân tộc.
Sau thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 tại tỉnh lỵ Biên Hòa, thực dân Pháp nhanh chóng quay trở lại xâm lược. Trước tình hình đó, hai anh em tiếp tục dấn thân vào cuộc kháng chiến. Anh Ba Khuê tham gia Quốc gia tự vệ cuộc Biên Hòa, được phân công làm Trưởng Công an liên thôn 4; anh Tư Khoan thoát ly gia đình, công tác trong Ban Ám sát của Công an thị xã Biên Hòa. Đơn vị của hai anh có thời gian đóng quân tại Hố Cạn, Tân Phong (nay thuộc địa bàn phường Trảng Dài), có lúc hoạt động tại căn cứ du kích Bình Đa.
Ở tuổi gần 70, mẹ vẫn ngày ngày gánh cơm rượu hoặc sương sa hột lựu đi bán rong để tự nuôi thân. Dáng mẹ già lặng lẽ qua từng con đường, ngõ xóm tưởng chừng chỉ là hình ảnh quen thuộc của một người phụ nữ mưu sinh. Nhưng đằng sau gánh hàng rong ấy còn có một tấm lòng son sắt với cách mạng. Mẹ tranh thủ những lúc thuận tiện, tìm cách móc nối, gửi đến các con và đồng đội một số vật dụng, nhu yếu phẩm cần thiết. Không trực tiếp cầm súng nơi chiến trận, mẹ vẫn âm thầm góp sức cho cuộc kháng chiến bằng những việc làm nhỏ bé mà đầy nghĩa tình.
Đầu năm 1947, anh Ba Khuê được điều động lên công tác tại xã Khánh Vân (nay thuộc địa bàn tỉnh Bình Dương trước đây). Ngày 16/3/1947, thực dân Pháp mở cuộc càn quét quy mô lớn vào khu vực rừng Khánh Vân. Anh cùng đồng đội và các chiến sĩ thuộc Phân đội Cảm tử Chi đội 10 kiên cường chiến đấu, góp phần bẻ gãy cuộc càn. Tuy nhiên, trong trận chiến ấy, anh Ba Khuê cùng một số đồng chí đã anh dũng hy sinh. Tin dữ đến với mẹ muộn màng. Người mẹ đã trải qua bao năm tháng chờ đợi, hy vọng, cuối cùng phải đón nhận nỗi đau mất đi người con trai cả – núm ruột mà mẹ đã một đời tảo tần nuôi dưỡng.
Năm 1949, giữa lúc cuộc kháng chiến ở Biên Hòa còn nhiều gian khó, mẹ Võ Thị Tám qua đời, hưởng thọ 71 tuổi. Mẹ ra đi khi chưa được chứng kiến ngày đất nước hòa bình, cũng chưa thể biết hết những hy sinh, mất mát mà gia đình mình còn phải gánh chịu.
Sau khi mẹ qua đời, anh Tư Khoan vẫn tiếp tục hoạt động cách mạng. Anh thường từ căn cứ trở về nội ô Biên Hòa để thực hiện nhiệm vụ. Nhờ sự đùm bọc, giúp đỡ và cung cấp tin tức kịp thời của nhân dân, anh nhiều lần vượt qua sự truy lùng của địch. Ngày 28/5/1950, trong một lần được phân công trở về Bửu Long thực hiện nhiệm vụ diệt tề, trừ gian, anh bị một tên chỉ điểm phát hiện và báo cho đồn địch. Bị quân địch bao vây trong một con hẻm cách chùa Bà khoảng vài chục mét, anh kiên quyết chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, không để rơi vào tay kẻ thù và anh dũng hy sinh tại chỗ.
Sau khi sát hại anh, quân địch kéo thi thể về bót, phơi ngoài nắng nhằm khủng bố tinh thần nhân dân rồi mới đem chôn trong khuôn viên đồn. Ít lâu sau, chúng tiếp tục san phẳng phần mộ. Sự tàn bạo của kẻ thù khiến người con trai thứ hai của mẹ cũng không có được một nơi an nghỉ được gìn giữ, hương khói như bao liệt sĩ khác.
Hai người con trai của mẹ, người hy sinh năm 1947, người ngã xuống năm 1950, đều đã hiến dâng tuổi xuân và cuộc đời cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Mẹ không còn sống để biết hết những hy sinh ấy, nhưng cuộc đời mẹ và các con đã trở thành một phần ký ức không thể phai mờ trong lịch sử đấu tranh cách mạng của quê hương Biên Hòa.
Từ một người phụ nữ nông dân nghèo, quanh năm tần tảo với gánh hàng rong, mẹ Võ Thị Tám đã dành cả cuộc đời để nuôi dưỡng, chở che và tiếp sức cho những người thân yêu trên con đường đấu tranh vì độc lập, tự do. Chồng mẹ tham gia hoạt động yêu nước, hai người con lần lượt đi theo cách mạng và đều anh dũng hy sinh. Sự hy sinh thầm lặng của mẹ không chỉ nằm ở những tháng ngày chịu thương chịu khó, mà còn ở nghị lực vượt qua cảnh chia lìa, mất mát để giữ trọn tấm lòng với quê hương, đất nước.
Ghi nhận những cống hiến và hy sinh cao cả ấy, Đảng và Nhà nước đã truy tặng mẹ Võ Thị Tám danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng theo Quyết định số 814/KTCTN ngày 24/4/1996. Năm 2000, mẹ và gia đình được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Ba.
Danh hiệu cao quý ấy là sự tri ân của Tổ quốc đối với một người mẹ đã sinh thành, nuôi dưỡng và hiến dâng cả hai người con cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Dẫu mẹ đã đi xa, hình ảnh người mẹ già với gánh cơm rượu, sương sa hột lựu rong ruổi khắp xóm làng, lặng lẽ dành dụm từng chút để gửi ra căn cứ cho các con và đồng đội, vẫn là một nét đẹp xúc động về tình yêu nước của người phụ nữ Việt Nam. Từ mái nhà nghèo ở Bửu Long, mẹ đã góp phần viết nên câu chuyện về một gia đình trọn nghĩa với quê hương, đất nước.



