NGƯỜI MẸ ĐẤT CÙ LAO - Viết về Mẹ VNAH Trang Thị Yến
Đã lâu lắm rồi chúng tôi mới có dịp về lại Phú Đa, mảnh đất cù lao – nơi mà nghe kể ngày xưa đã từng nuôi dưỡng, chở che biết bao thế hệ cán bộ cách mạng của huyện bám trụ hoạt động. Chính vì vậy mà kẻ thù luôn thẳng tay đàn áp người dân đất cù lao này bằng đủ mọi thủ đoạn, cũng như tàu giặc trên sông thường xuyên bủa vây càn quét bắn phá vào mảnh đất này mỗi khi có tin lực lượng vũ trang của ta hành quân về. Trải qua hai cuộc kháng chiến, nhân dân Phú Đa cũng đã phải gánh chịu nhiều đau thương mất mát. Nhiều gia đình, Mẹ đã phải mất con, vợ đã phải xa chồng... Gia cảnh nhà mẹ Trang Thị Yến cũng ở trong hoàn cảnh đó.
Mẹ được sinh ra vào năm 1920, khi mà quê hương đất nước đã tràn ngập bóng quân xâm lược. Lớn lên trong cảnh nô lệ, lầm than, hàng ngày chứng kiến cảnh tàn ác của kẻ thù cùng với những áp bức bất công và nỗi khổ cực của người dân, mẹ Yến tuy là một thiếu nữ hiền thục, đoan trang, chân yếu, tay mềm nhưng trong lòng đã chất chứa một nỗi căm thù giặc sâu sắc, một tình yêu quê hương vô bờ bến.
Năm 20 tuổi, Mẹ về làm vợ ông La Văn Muôn – một thanh niên nghèo ở Cái Kè (Vĩnh Long) với tất cả tấm lòng của một người phụ nữ Việt Nam giàu lòng thủy chung và nhân ái. Vì cả đôi bên cha mẹ đều nghèo nên vợ chồng quyết định ở lại mảnh đất cù lao vốn màu mỡ và trù phú này để dễ bề sinh sống. Một căn chòi hẹp, một khoảnh vườn nhỏ cạnh bờ sông và một chiếc xuồng cha mẹ chia cho là mái ấm, là phương tiện sinh sống ban đầu của gia đình. Rồi thời gian qua mau, đứa con đầu lòng của Mẹ cất tiếng khóc chào đời. Để có cái ăn, cái mặc, ngày ngày Mẹ Cha đã phải gửi con cho ông bà ngoại để ngược xuôi trên chiếc xuồng đi mua bán lúa ở nhiều nơi. Cuộc sống gia đình tuy cơ cực bần hàn, sớm hôm bầu bạn với bốn bề sông nước nhưng vợ chồng Mẹ sống rất hạnh phúc.
Những năm 1950 – 1951, thực hiện kế hoạch “vết dầu loang” thực dân Pháp chiếm đóng khắp tỉnh Bến Tre. Phong trào kháng chiến của nhân dân Bến Tre nói chung và huyện Chợ Lách nói riêng tạm thời thoái trào, lực lượng kháng chiến huyện tạm thời di chuyển sang các xã Mỹ An, Măng Thít, An Phước (thuộc Vĩnh Long) để né tránh. Từ đó, Mẹ đã biến chiếc xuồng của mình với những chuyến mua lúa thành những dịp để giao liên, liên lạc cho cách mạng từ các xã đất liền thuộc Vĩnh Long – nơi có lực lượng kháng chiến của ta đứng chân về quê nhà và ngược lại. Nhiều lần như vậy, tuy tàu địch trên sông vẫn thường xuyên canh tuần nghiêm ngặt nhưng với sự mưu trí và lòng quả cảm của mình, Mẹ đã qua được mắt địch an toàn, có khi là cán bộ ta bám về hoạt động, có khi là tin tức, tình hình địch từ quê nhà gửi sang... v.v... Nhưng không may, năm 1951, trong một chuyến chở đầy lúa, ở giữa dòng Cổ Chiên mênh mông, đầy sóng và gió lớn, xuồng Mẹ va phải gượng đáy lật úp và Mẹ bị chết đuối.
Mẹ mất, người con trai duy nhất của Mẹ là anh La Văn Hải mới vừa tròn một tuổi, phải sống với cha và nương tựa vào ông bà ngoại. Rồi cha lại chết sớm trong bệnh hoạn, ông bà ngoại cũng lần lượt qua đời, anh Hải sống với người dì thứ sáu ở thị xã Vĩnh Long.
Năm 1968, khi tiếng súng tổng tấn công và nổi dậy của quân và dân ta nổ ra khắp nơi, vào tận sào huyệt của kẻ thù, phấn khởi trước khí thế mạnh mẽ của cách mạng, mới 17 tuổi anh Hải tình nguyện đi bộ đội. Tháng 6/1968 gia đình nhận được tin anh đã hy sinh tại Thành phố Sài Gòn. Mãi cho đến bây giờ chẳng ai biết hài cốt của anh ở đâu. Chỉ nghe nói đơn vị của anh lúc đó do đồng chí Sáu Ly chỉ huy được lệnh tham gia tấn công vào Thành phố Sài Gòn và dường như hầu hết đều hy sinh!
Cuộc đời của mẹ Trang Thị Yến quá ngắn ngủi! Mẹ mất khi mới vừa tròn 31 tuổi. Con của Mẹ hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ. Hiện gia đình ruột thịt của Mẹ còn chẳng mấy ai. Viết về cuộc đời của Mẹ, chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn. Nhưng dẫu sao chúng tôi vẫn hết sức cố gắng để đáp lại phần nào công sức của Mẹ đã đóng góp cho sự nghiệp cách mạng. Dù chỉ có mấy dòng ngắn ngủi, nhưng xin được thay nén hương để tưởng nhớ vong linh Mẹ và để giữ lại cho con cháu muôn đời sau một chút gì về cuộc đời của Mẹ – một người Mẹ đã sinh ra một người con anh hùng, đã cống hiến trọn cuộc đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.



