Người mẹ đất thép - Nguyễn Thị Rành
Bà Nguyễn Thị Rành, sinh năm 1900 và mất năm 1979, cha mẹ mất sớm, Bà bị tên Lý Hạnh ở Xóm Giữa kêu lính đến bắt về làm mướn cho hắn để trừ món nợ của cha mẹ khi mới 14 tuổi. Lớn lên, Bà lập gia đình cùng thầy giáo Nguyễn Văn Cầm ở ấp Bàu Công, xã Tân Mỹ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Năm 1941, thầy nghỉ dạy để có điều kiện tham gia hoạt động cách mạng. Bà được bà con xóm giềng khen ngợi: “Vợ thầy Cầm đẹp nết, đẹp người”. Lấy chồng, bà lại phải vừa lo cho gia đình vừa lo cho đất nước. Trong những năm chiến tranh, bà là người chí cốt với cách mạng “Một tấc không đi, một ly không rời”, bà quyết không vào ấp chiến lược của địch, mà ở lại xã Phước Hiệp chịu đựng bom rơi, pháo chụp. Bà nuôi dưỡng cán bộ, chiến sĩ, du kích địa phương và chỉ vẽ cho con cháu đánh giặc. Trong hệ thống địa đạo Củ Chi nổi tiếng, có công lao đóng góp của bà. Cùng với nhân dân Củ Chi, bà nhẫn nại kiên trì đào hầm để chiến đấu, tự vệ và phục vụ cuộc chiến đấu chống Mỹ ròng rã của nhân dân vùng đất thép nổi tiếng. Địch nhiều lần bắt bà, hết dụ dỗ, lừa gạt đến tra tấn dã man hòng ép bà kêu gọi con cháu về đầu hàng chúng và ly khai với cách mạng. Nhưng trước sau, bà vẫn một lòng một dạ kiên trung, bất khuất, bám trụ giữ đất, nuôi dưỡng cán bộ, chiến sĩ và đội du kích nữ Củ Chi đến ngày toàn thắng.
Có lẽ đối với bà hay với bất cứ những người mẹ nào khác thì những khổ cực trên cũng chẳng là gì so với nỗi đau mất đi núm ruột của mình. Từ năm 1947 đến năm 1969, trong 22 năm đó, bà đã phải đau đớn chịu cảnh tre già khóc măng non khi 8 người con trai yêu quý của mình là các anh: Dúng, Sóc, Vẻ, Hè, Huội, Sướng, Nâng, Luôn lần lượt ra đi mãi mãi không về theo tiếng gọi của non sông. Đau thương, mất mác là thế nhưng mẹ quyết không ngã quỵ, quyết không từ bỏ khi đất nước còn lâm nguy. Những đứa cháu trai của bà lại tiếp tục lên đường đánh giặc tiếp bước những người cha, người chú, người cậu anh hùng của mình. Và rồi, một lần nữa, bà lại khóc tiễn đưa những người cháu yêu thương. Những ai đã từng làm mẹ mới thấu hiểu được phần nào nỗi đau xé lòng của Bà. Cả cuộc đời Bà đã cống hiến cho non sông, đất nước. Cống hiến cả những đứa con ruột thịt – thứ quý giá nhất của mình cho hòa bình dân tộc. Sự hy sinh, mất mát của bà không gì có thể bù đắp được.
Gia đình bà, bốn đời tham gia đánh giặc cứu nước. Qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Bà đã cống hiến cho Tổ quốc 8 người con trai: Nguyễn Văn Dúng (1920 – 1947) – Xã đội trưởng xã Phước Hiệp; Nguyễn Văn Sóc (1926 – 1954) – Tiểu đội trưởng đặc công; Nguyễn Văn Vé (1932 – 1959); Nguyễn Văn Hè (1935 – 1967); Nguyễn Văn Huội (1938 – 1968); Nguyễn Văn Sướng (1939 – 1968); Nguyễn Văn Nâng (1940 – 1967); Nguyễn Văn Luông (1942 – 1969) và hai cháu: cháu nội Nguyễn Văn Rưng (1939 – 1967) – Tiểu đội phó; cháu ngoại Huỳnh Văn Cường (1948 – 1970).



