Những năm tháng chiến tranh ác liệt ở miền Nam, làng nhỏ ven sông quê tôi sống trong khói lửa, bom đạn. Giữa khung cảnh dữ dội ấy, vẫn có những con người bình dị mà kiên cường, thắp lên ánh sáng của lòng dũng cảm và tình yêu Tổ quốc. Trong dòng chảy lịch sử hào hùng, những trang sử thấm đẫm khói súng của dân tộc, luôn xuất hiện những hình ảnh bình dị mà kiêu hãnh như những bông hoa đỏ rực giữa cánh đồng lửa. Những bông hoa ấy không chỉ tượng trưng cho máu và nước mắt, mà còn cho sức sống mãnh liệt, cho ý chí không bao giờ chịu khuất phục của con người Việt Nam. Người dân Nam Bộ truyền nhau câu chuyện “Thời Hoa Lửa” – giai đoạn mà mỗi người dân là một ngọn đuốc kiên cường, sáng nhất trong số đó là hình bóng của người mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thập. Cuộc đời mẹ, giống như một bông hoa đỏ bền bỉ giữa bão đạn, đã trở thành biểu tượng đẹp nhất của lòng yêu nước, của sự hi sinh và của bản lĩnh người phụ nữ Việt Nam.
Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thập (1908–1996) là một nhà cách mạng nữ Việt Nam, tên thật là Nguyễn Thị Ngọc Tốt, sinh ra và lớn lên tại xã Long Hưng, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang (nay là xã Long Hưng, tỉnh Đồng Tháp). Thuở còn là cô gái miền sông nước, mẹ Thập đã sớm hiểu rằng tự do không tự nhiên mà có. Mẹ tham gia phong trào cách mạng từ tuổi đôi mươi, đi qua biết bao lần vây bắt, truy lùng, gian khổ.Có người nói: “Ở mẹ có thứ sức mạnh lạ lắm. Như ngọn lửa không tắt được.”Người khác thì kể: “Mỗi lần mẹ nói chuyện với dân, ánh mắt bà cháy như đang thắp lửa trong tim mọi người.”Ngay từ khi còn rất trẻ, mẹ đã chứng kiến cảnh quê hương bị áp bức, nhân dân lầm than, và chính điều đó đã thắp lên trong mẹ ngọn lửa căm thù giặc cùng khát vọng đứng lên giải phóng dân tộc. Mẹ Nguyễn Thị Thập Sinh ra, lớn lên trong thời điểm đất nước bị áp bức, bóc lột của chế độ thực dân, đế quốc, đời sống của nhân dân Việt Nam nói chung, Tiền Giang nói riêng vô cùng cực khổ, lầm than, bản thân mẹ thuở nhỏ cũng phải vất vả để kiếm sống và phụ giúp gia đình. Thực tiễn quê hương, đất nước cũng như cuộc sống cực khổ, bươn chải của bản thân đã sớm hình thành trong người con gái trẻ tinh thần yêu nước và cách mạng, ý chí đấu tranh giành độc lập dân tộc, đem lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Từ năm 20 tuổi, mẹ đã giác ngộ lí tưởng cách mạng, tham gia tổ chức Nông hội ở Long Hưng với nhiều hoạt động được đông đảo nông dân nghèo ủng hộ. Mới ngoài đôi mươi, mẹ đã tham gia phong trào cách mạng, làm nhiệm vụ gây dựng cơ sở, vận động quần chúng và tổ chức các phong trào đấu tranh của phụ nữ.Cuộc đời hoạt động của mẹ cũng chìm trong hiểm nguy của “thời hoa lửa” – nơi mỗi bước chân đều có thể đối diện với hy sinh. Năm 1931, mẹ được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Từ đó mẹ lấy bí danh là Mười Thập hay Nguyễn Thị Thập, sau đó thoát ly hoạt động phong trào, xây dựng cơ sở ở Mỹ Tho, Tân An, Bến Tre, Sài Gòn…làm nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục nhân dân và phụ nữ xóa bỏ những hủ tục mê tín dị đoan, những lề thói lạc hậu, chống lại chế độ “ngu dân”. Mẹ cùng với anh ruột là đồng chí Tám Cảnh và chồng là đồng chí Lê Văn Giác thường xuyên bí mật tập hợp thanh niên tuyên truyền lí tưởng của Đảng, giai cấp và tội ác của thực dân xâm lược cùng bọn cường hào ác bá địa phương với hàng trăm thứ sưu cao thuế nặng. Tháng 4 năm 1935, mẹ được bầu vào Xứ ủy Nam Kỳ. Tháng 5, năm 1935, mẹ bị Pháp bắt, bị kết án tù. Hết hạn tù, mẹ về quê bí mật tham gia hoạt động cách mạng. Sau cuộc lãnh đạo nông dân biểu tình chống thuế ở xã Long Hưng, mẹ lại bị bắt giam nhưng đồng bào các xã Long Hưng, Long Định đã kéo tới giải thoát cho mẹ. Năm 1940, trong một lần bị thực dân Pháp bắt giam, tra tấn dã man, mẹ vẫn giữ khí tiết kiên trung. Dù thân thể chịu nhiều đòn roi, mẹ tuyệt đối không khai báo, bảo vệ an toàn cho tổ chức và đồng đội. Chính tinh thần sắt đá ấy đã khiến mẹ trở thành biểu tượng của ý chí đấu tranh trong phong trào phụ nữ Nam Bộ. Tỉnh ủy Mỹ Tho quyết định lấy rừng Ba U làm căn cứ, tổ chức nhiều hội nghị ở nhiều nơi khác nhau trong tỉnh, bàn việc chuẩn bị khởi nghĩa ở Mỹ Tho, thành lập Ủy ban Khởi nghĩa. Mẹ được giao nhiệm vụ phụ trách Lực lượng vũ trang của tỉnh. Từ tháng 8 đến tháng 11-1940, mẹ tích cực tổ chức cho các địa phương trong tỉnh luyện tập, chuẩn bị cuộc khởi nghĩa lớn. Khi có lệnh khởi nghĩa của Xứ ủy, Lực lượng vũ trang và nhân dân Mỹ Tho làm một cuộc “tiến công lên trời”, cờ đỏ sao vàng (sau này trở thành quốc kỳ của nước ta) lần đầu tiên được xuất hiện ở Đình Long Hưng - nơi được chọn làm tổng hành dinh cách mạng của cuộc khởi nghĩa ở Mỹ Tho.Trong hồi ký mẹ đã viết rằng: “Đúng ngày 22, rạng ngày 23-11-1940 cuộc khởi nghĩa, lệnh từ Sài Gòn về Mỹ Tho, 2 giờ khuya đến 5 giờ sáng, khắp nơi kéo quân đến đường bạo động giành chính quyền… Tôi như quên hẳn mình đang có thai gần kỳ sinh nở… Tóc búi cao, quần xắn đến gối, tôi thắt chặt bụng chửa bằng chiếc khăn rằn. Khi lên trước, khi chạy ngược lại đằng sau nhắc nhở anh em chỉnh tề đội ngũ mà người cứ nhẹ tênh, tưởng mình như còn con gái…”. Đến năm 1946, mẹ được bầu là Đại biểu Quốc Hội khóa I Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tháng 11 năm 1946, thực dân Pháp quay trở lại Việt Nam, toàn quốc kháng chiến, Trung ương dời về chiến khu Việt Bắc. Lúc này, với cương vị là Ủy viên Trung ương Đảng, mẹ được phân công trở về miền nam với nhiệm vụ đặc biệt là xây dựng và củng cố Đảng bộ Nam bộ ngày càng vững mạnh. Năm 1947, mẹ được cử làm Đoàn trưởng Đoàn Phụ nữ cứu quốc Nam bộ, rồi Hội trưởng Hội phụ nữ cứu quốc Nam bộ, rồi Hội trưởng Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Nam bộ. Năm 1953, Trung ương điều mẹ ra công tác tại chiến khu Việt Bắc. Hiệp định Genève được ký kết, mẹ được cử vào miền nam để phổ biến việc thi hành Hiệp định đình chiến. Sau khi tập kết ra miền Bắc (1954), mẹ được bầu là Chủ tịch Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam (1956-1974). Năm 1955, mẹ được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam cho đến khi nghỉ hưu (1980). Mẹ còn được Đảng và Nhà nước giao nhiều chức vụ quan trọng như Bí thư Đảng Đoàn phụ nữ kiêm Trưởng ban phụ vận Trung ương. Mẹ chính là người giữ kỷ lục về thâm niên người đứng đầu tổ chức phụ nữ Việt Nam với 18 năm liên tục, cũng là người phụ nữ duy nhất có 33 năm liên tục là Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1955-1988). Là Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa II (1960-1964) và 17 năm liên tục ở cương vị Phó Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội (1964-1981); là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng nhiều năm (từ khóa II đến khóa IV).Trong thời gian giữ trọng trách là Hội trưởng Hội LHPN Việt Nam, Phó Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội, với sự thấu hiểu về vị trí, vai trò của người phụ nữ trong tiến trình phát triển của đất nước và tầm nhìn chiến lược của một nhà lãnh đạo tài ba, mẹ đã đóng góp tiếng nói đại diện cho giới nữ vào việc sửa đổi Hiến pháp (1960) và kiến nghị xây dựng Luật Hôn nhân và gia đình phù hợp với đạo đức xã hội chủ nghĩa, thực hiện nam nữ bình đẳng. Những chủ trương chỉ đạo mang tầm chiến lược của đồng chí vẫn còn nguyên giá trị thời đại, mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc, mãi lan tỏa đến nhiều thế hệ phụ nữ Việt Nam. “Thời hoa lửa” của mẹ không chỉ là những năm tháng chiến tranh, mà còn là những ngày đi vận động, đi họp, đi xuống cơ sở, chăm lo cho đời sống nhân dân, vun đắp sức mạnh đoàn kết của phụ nữ cả nước. Dù ở cương vị nào, mẹ vẫn giữ nếp sống giản dị, nhân hậu, gần gũi với mọi người.Khi tìm hiểu về cuộc đời của mẹ Nguyễn Thị Thập, tôi thực sự cảm nhận được một nguồn năng lượng mạnh mẽ của 1 người mẹ, 1 người phụ nữ kiên cường giữa những tháng ngày gian khổ của dân tộc. Ở mẹ Nguyễn Thị Thập luôn lan toả ra một lý tưởng sống vì nhân dân và tinh thần hy sinh thầm lặng hiện lên rất rõ ràng, khiến tôi vừa khâm phục vừa xúc động. Đọc về những năm tháng hoạt động cách mạng, càng thấm thía hơn nghị lực của một người phụ nữ nhỏ bé nhưng mang trong mình trái tim lớn lao. Điều khiến tôi ấn tượng nhất chính là sự giản dị, bền bỉ, luôn đặt quyền lợi của nhân dân lên trên tất cả. Cuộc đời của mẹ đã giúp tôi hiểu rằng những giá trị cao đẹp không phải chỉ có trong sách vở, mà còn hiện hữu ở những con người bình dị như mẹ – những người đã âm thầm dựng xây nền độc lập hôm nay. Cuộc đời và sự nghiệp của mẹ Nguyễn Thị Thập để lại cho thế hệ trẻ hôm nay một thông điệp sâu sắc: lý tưởng sống đúng đắn và tinh thần cống hiến không bao giờ lỗi thời. Trong thời đại mới, chúng ta không còn ở trong khói lửa chiến tranh, nhưng vẫn cần giữ trong mình ý chí kiên trì, lòng trách nhiệm và sự tự nguyện đóng góp cho cộng đồng – những phẩm chất đã làm nên giá trị của mẹ. Tấm gương của mẹ nhắc nhở mỗi người trẻ hãy sống có mục tiêu, biết vượt qua khó khăn, biết yêu thương và hướng về những điều tốt đẹp. Đó chính là cách thiết thực nhất để tiếp nối truyền thống của thế hệ đi trước và xây dựng một tương lai văn minh, mạnh mẽ cho đất nước.