Người mẹ kiên cường dành trọn cuộc đời cho cách mạng
MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG VÕ THỊ BÉ

Năm 1916, tại xã Tân Tập, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, một người con gái mang tên Võ Thị Bé được sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo. Tuổi thơ và những năm tháng trưởng thành của Mẹ gắn liền với cuộc sống lam lũ của người nông dân và những biến động đau thương của đất nước trong những năm tháng chiến tranh.
Lớn lên trong cảnh quê hương bị thực dân Pháp cai trị, tận mắt chứng kiến cuộc sống cơ cực, lầm than của người dân, Mẹ sớm hình thành lòng yêu nước và ý thức cách mạng. Mẹ lập gia đình với ông Nguyễn Văn Miên, cùng nhau làm ruộng, tần tảo nuôi năm người con khôn lớn.
Cuộc sống của gia đình Mẹ vốn đã nhiều khó khăn, nhưng những năm tháng chiến tranh càng khiến cuộc đời Mẹ thêm nhiều thử thách.
Chồng Mẹ là người giữ đình tại ấp Tân Hòa, xã Tân Tập, huyện Cần Giuộc. Khoảng năm 1960, ông bị địch bắt và tra khảo nhằm khai thác thông tin về cơ sở cách mạng. Trước sự đàn áp dã man của kẻ thù, ông đã hy sinh.
Nỗi đau mất chồng chưa kịp nguôi ngoai, Mẹ lại tiếp tục chứng kiến những người con của mình lần lượt bước vào con đường cách mạng.
Mang trong mình lòng yêu quê hương, căm thù giặc và ý chí quyết tâm bảo vệ đất nước, bốn người con của Mẹ đã tham gia lực lượng bộ đội địa phương huyện Cần Giuộc và huyện Nhà Bè trong những năm 1961, 1963, 1964.
Trong những năm tháng ấy, Mẹ không chỉ là người mẹ chăm lo cho gia đình mà còn trở thành một cơ sở âm thầm của cách mạng. Mẹ tham gia tiếp tế lương thực, nuôi giấu cán bộ, góp phần bảo vệ và duy trì hoạt động của lực lượng cách mạng tại địa phương.
Nhiều lần Mẹ bị địch bắt, giam cầm và tra khảo dã man để tìm cách khai thác thông tin về căn cứ, nơi đóng quân của bộ đội. Nhưng dù phải chịu đựng những đau đớn về thể xác, Mẹ vẫn một mực kiên cường, không khai báo bất kỳ thông tin nào, quyết tâm bảo vệ cán bộ và cách mạng.
Đối với Mẹ, sự an toàn của những người đang chiến đấu vì quê hương quan trọng hơn chính sự sống của mình.
Rồi những mất mát lớn nhất lần lượt ập đến.
Năm 1967, người con trai Nguyễn Văn Hai, sinh năm 1939, hy sinh trong một trận chống càn tại xã Tân Tập. Khi ấy, anh là Xã đội trưởng - du kích xã Tân Tập.
Cùng năm đó, người con trai Nguyễn Văn Ba, sinh năm 1941, cũng hy sinh tại xã Phước Lâm, huyện Cần Giuộc, trong một trận chiến đấu chống càn. Khi hy sinh, anh là Tiểu đội trưởng thuộc Đại đội 316 huyện Cần Giuộc, mang cấp bậc Trung sĩ.
Hai người con lần lượt ra đi. Hai nỗi đau lớn cùng lúc đặt lên đôi vai người mẹ.
Nhưng chiến tranh vẫn tiếp diễn.
Năm 1969, Mẹ lại mất thêm hai người con.
Ngày 20 tháng 2 âm lịch năm 1969, người con trai Nguyễn Văn Sáu, sinh năm 1943, hy sinh tại xã Long Đức, huyện Cần Giuộc. Anh là chiến sĩ thuộc Ban Tuyên huấn huyện Nhà Bè, hy sinh khi bị phục kích trên đường đi công tác tại sông Đinh Đôi. Đến nay vẫn chưa tìm được hài cốt của anh.
Chưa đầy một năm sau, ngày 10 tháng 10 âm lịch năm 1969, người con gái duy nhất trong bốn người con hy sinh là Liệt sĩ Nguyễn Thị Kim Anh, sinh năm 1945. Chị tham gia cách mạng từ ngày 12 tháng 02 năm 1964, là cán bộ giao liên - bộ đội địa phương huyện Nhà Bè.
Trên đường công tác trở về căn cứ tại xã Hiệp Phước, huyện Nhà Bè, chị hy sinh khi địch đổ quân, máy bay trực thăng bắn rốc-két. Hài cốt của chị đến nay cũng chưa được tìm thấy.
Bốn người con - bốn cuộc đời còn rất trẻ - đã lần lượt nằm lại trên quê hương.
Đối với một người mẹ, không có nỗi đau nào lớn hơn việc phải tiễn những người con của mình ra đi mãi mãi. Nhưng Mẹ Võ Thị Bé đã nén lại nỗi đau riêng, không khuất phục trước sự đàn áp của kẻ thù, giữ vững lòng trung thành với cách mạng cho đến ngày đất nước được giải phóng.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, gia đình Mẹ chuyển về sinh sống tại ấp Bình Trường, xã Bình Khánh, huyện Cần Giờ.
Những năm tháng bị địch bắt, giam cầm và tra khảo đã để lại những di chứng nặng nề trên cơ thể Mẹ. Năm 1990, Mẹ qua đời, khép lại một cuộc đời đầy gian lao nhưng vô cùng cao cả.
Mẹ được an táng và sau đó quy tập về Nghĩa trang Liệt sĩ huyện Cần Giuộc.
Ngày 27 tháng 8 năm 1995, Chủ tịch nước truy tặng Mẹ danh hiệu cao quý “Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng” theo Quyết định số 522 KT/CTN.
Danh hiệu ấy là sự ghi nhận của Tổ quốc đối với những hy sinh to lớn của Mẹ. Nhưng có lẽ, không một danh hiệu nào có thể diễn tả hết những mất mát mà Mẹ đã trải qua.
Mẹ đã mất chồng trong chiến tranh. Mẹ đã hiến dâng bốn người con cho Tổ quốc. Bản thân Mẹ nhiều lần bị bắt, bị giam cầm và tra khảo nhưng vẫn một lòng bảo vệ cách mạng.
Cuộc đời Mẹ Võ Thị Bé là hình ảnh tiêu biểu cho những người phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh: anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang. Mẹ không trực tiếp cầm súng nơi chiến trường, nhưng bằng những việc làm âm thầm, bằng sự kiên cường và lòng son sắt, Mẹ đã góp phần vào cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc.
Hôm nay, khi đất nước đã hòa bình, chúng ta được sống trong những ngày tháng bình yên, có thể trở về với gia đình, được học tập, lao động và xây dựng quê hương, thì phía sau sự bình yên ấy là những sự hy sinh mà không thể nào đo đếm hết.
Có những người mẹ đã tiễn chồng ra đi.
Có những người mẹ đã tiễn từng người con lên đường.
Và có những người mẹ như Mẹ Võ Thị Bé, đã lần lượt mất đi cả bốn người con nhưng vẫn giữ vững niềm tin, không khuất phục trước kẻ thù.
Mẹ đã ra đi, nhưng câu chuyện về cuộc đời Mẹ vẫn còn đó như một lời nhắc nhở các thế hệ hôm nay về giá trị của hòa bình và lòng biết ơn đối với những người đã hy sinh vì Tổ quốc.
Xin được kính cẩn nghiêng mình trước Mẹ Việt Nam Anh hùng Võ Thị Bé.
Xin tri ân người Mẹ đã hiến dâng cả cuộc đời và bốn người con cho quê hương, đất nước.
Tên tuổi Mẹ có thể đã lặng vào dòng chảy của thời gian, nhưng sự hy sinh của Mẹ và các anh hùng liệt sĩ sẽ mãi được quê hương, đất nước ghi nhớ.
Mẹ đã mất đi những người con, nhưng từ sự hy sinh ấy, Mẹ đã góp phần để đất nước có được những người con của hòa bình hôm nay.



