NGƯỜI MẸ RA ĐI TRƯỚC NGÀY ĐẤT NƯỚC GỌI TÊN ĐỘC LẬP
Mẹ Nguyễn Thị Cội sinh năm 1903 tại làng An Thuận, xã Thuận Giao, quận Lái Thiêu, tỉnh Thủ Dầu Một (nay thuộc thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương). Mẹ mất khi mới ba mươi tuổi, nhiều năm trước khi đất nước bước vào các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc. Thế nhưng từ mái nhà nghèo của người phụ nữ ấy đã trưởng thành những người con yêu nước, trong đó ba người con đã anh dũng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Cuộc đời Mẹ là câu chuyện đặc biệt về sự hy sinh thầm lặng của một người mẹ không
Lịch sử dân tộc có những người mẹ trực tiếp tiễn con ra chiến trường, chứng kiến từng bước trưởng thành của các con trong cách mạng rồi lặng lẽ chịu đựng những mất mát không gì bù đắp được. Nhưng cũng có những người mẹ mang một số phận đặc biệt hơn. Họ rời xa cuộc đời khi các con còn thơ dại, không được nhìn thấy con khôn lớn, không được chứng kiến những năm tháng đấu tranh oanh liệt của dân tộc. Mẹ Nguyễn Thị Cội là một người mẹ như thế.
Mẹ sinh năm Quý Mão 1903 trong một gia đình nông dân nghèo ở làng An Thuận. Cuộc sống của người dân vùng Lái Thiêu đầu thế kỷ XX vô cùng khó khăn. Ruộng đất ít, đời sống phụ thuộc hoàn toàn vào mùa màng nên cái nghèo luôn đeo bám. Từ nhỏ, Mẹ đã quen với cảnh lao động vất vả. Lớn lên, Mẹ lập gia đình theo phong tục địa phương và tiếp tục cuộc sống tảo tần của một người phụ nữ nông thôn Nam Bộ.
Gia đình đông con nhưng cuộc sống thiếu thốn khiến nhiều người con không thể sống đến tuổi trưởng thành. Những người còn lại cũng lớn lên trong cảnh cơm không đủ no, áo không đủ ấm. Ngày ngày, Mẹ cùng chồng thức khuya dậy sớm làm lụng để nuôi các con. Hết mùa lúa lại đến mùa hoa màu, hết việc đồng áng lại tìm việc làm thuê để có thêm thu nhập. Mọi tình yêu thương và hy vọng của Mẹ đều gửi gắm vào những đứa con thơ.
Nhưng những tháng năm cơ cực ấy đã bào mòn sức khỏe của người phụ nữ trẻ. Sinh nở nhiều lần trong điều kiện thiếu ăn, thiếu thuốc men, lại phải lao động nặng nhọc khiến cơ thể Mẹ ngày càng suy yếu. Đến năm 1933, Mẹ lâm bệnh nặng. Người dân trong vùng gọi đó là bệnh hậu sản. Thời ấy, y tế còn lạc hậu, thuốc men khan hiếm nên bệnh tình của Mẹ ngày một trầm trọng. Khi vừa tròn ba mươi tuổi, Mẹ qua đời, để lại đàn con nhỏ bơ vơ cùng người chồng nghèo ở lại gánh vác gia đình.
Ngày Mẹ mất, đất nước vẫn còn chìm trong đêm dài nô lệ. Không ai có thể hình dung rằng hơn một thập niên sau, dân tộc Việt Nam sẽ vùng lên giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Mẹ cũng không thể biết rằng những đứa con thơ dại năm nào rồi sẽ trở thành những người chiến sĩ cách mạng.
Sau ngày nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, phong trào cách mạng lan rộng khắp Nam Bộ. Các con của Mẹ Nguyễn Thị Cội gồm Trần Thị Liên, Trần Thị Hẩu, Trần Văn Cạp và Trần Văn Liềm đều tham gia lực lượng Thanh niên Tiền phong tại địa phương. Trong không khí sục sôi của những ngày đầu kháng chiến, họ đã lựa chọn con đường tiếp bước cách mạng, đứng lên bảo vệ quê hương.
Cuối năm 1945, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Nam Bộ. Quê hương Thuận Giao nhanh chóng trở thành vùng chiến sự. Để bảo vệ căn cứ cách mạng, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một và Huyện ủy Lái Thiêu xây dựng chiến khu Thuận – An – Hòa. Nhiều thanh niên địa phương hăng hái lên đường chiến đấu. Trong số đó có Trần Văn Cạp, người con trai của Mẹ Nguyễn Thị Cội. Anh tham gia bộ đội huyện từ những ngày đầu kháng chiến và luôn có mặt trong những trận đánh ác liệt chống quân xâm lược.
Đêm 20 tháng 10 năm 1947, trong trận tiến công đồn Cầu Mới ở Bình Chuẩn, chiến sĩ Trần Văn Cạp đã anh dũng hy sinh. Sự ra đi của anh là mất mát lớn đối với gia đình và quê hương. Nếu còn sống, hẳn Mẹ Nguyễn Thị Cội sẽ đau đớn biết bao khi mất đi một người con. Nhưng cũng chính sự hy sinh ấy đã trở thành nguồn động viên cho những người em tiếp tục đứng lên chiến đấu.
Sau khi anh trai ngã xuống, Trần Văn Liềm quyết định thoát ly gia đình để tiếp tục con đường kháng chiến. Trong khi đó, chị Trần Thị Liên làm nhiệm vụ giao liên cho lực lượng cách mạng. Công việc ấy vô cùng nguy hiểm bởi phải thường xuyên vượt qua những khu vực địch kiểm soát để chuyển thư từ, tài liệu và liên lạc giữa các đơn vị. Tháng 9 năm 1953, trong một chuyến công tác, chị Liên rơi vào ổ phục kích của địch và anh dũng hy sinh. Người con gái của Mẹ đã hiến trọn tuổi xuân cho độc lập dân tộc.
Đất nước tạm thời chia cắt sau Hiệp định Genève năm 1954 nhưng phong trào đấu tranh ở miền Nam vẫn tiếp tục phát triển. Trần Văn Liềm không tập kết ra Bắc mà ở lại địa phương hoạt động cách mạng. Anh tham gia lực lượng vũ trang chủ lực và chiến đấu trên địa bàn Tam Giác Sắt – một chiến trường nổi tiếng ác liệt của miền Đông Nam Bộ. Trong nhiều năm liền, anh cùng đồng đội chiến đấu bảo vệ cơ sở cách mạng và Nhân dân. Ngày 22 tháng 2 năm 1962, trong một trận chống càn ở Bến Súc, anh bị thương nặng và anh dũng hy sinh.
Như vậy, ba người con của Mẹ Nguyễn Thị Cội đã lần lượt ngã xuống trên các chiến trường khác nhau. Họ mang trong mình tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường và lòng trung thành với cách mạng. Điều đặc biệt là tất cả những điều ấy diễn ra sau khi Mẹ đã qua đời gần ba mươi năm.
Không có tấm ảnh nào còn lưu lại hình bóng của Mẹ. Thời gian và chiến tranh đã cuốn đi nhiều dấu tích của cuộc đời người phụ nữ ấy. Nhưng lịch sử không quên. Tổ quốc không quên. Bởi từ mái nhà nghèo nơi làng An Thuận năm xưa đã trưởng thành những người con sẵn sàng hiến dâng tuổi trẻ và cả tính mạng cho đất nước.
Nhiều năm sau ngày hòa bình lập lại, Đảng và Nhà nước đã truy tặng Mẹ Nguyễn Thị Cội danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Danh hiệu ấy là sự tri ân đối với một người mẹ bình dị nhưng đã góp phần làm nên lịch sử bằng chính những người con mà mình sinh thành và nuôi dưỡng.
Ý nghĩa câu chuyện
Câu chuyện về Mẹ Nguyễn Thị Cội cho thấy sự hy sinh của người mẹ Việt Nam không chỉ được đo bằng những năm tháng trực tiếp tiễn con ra trận mà còn được thể hiện qua những giá trị, phẩm chất mà Mẹ truyền lại cho thế hệ sau. Dù mất từ rất sớm, Mẹ đã để lại cho quê hương những người con kiên trung, bất khuất, góp phần làm nên thắng lợi của dân tộc. Cuộc đời Mẹ là biểu tượng đẹp của đức hy sinh, lòng yêu nước và sức mạnh của tình mẫu tử Việt Nam.


