Mẹ Việt Nam Anh hùng

NGƯỜI MẸ TỪ THÁI LAN NHẬN VIỆT NAM LÀM QUÊ HƯƠNG

Câu chuyện kể về bà Khăm Xón Chèm Chăn, một người phụ nữ Thái Lan lấy chồng Việt Nam. Năm 1961, khi đang mang thai người con thứ bảy, bà quyết định cùng chồng và sáu người con rời Thái Lan về Việt Nam sinh sống theo lời kêu gọi Việt kiều trở về xây dựng quê hương. Tại Việt Nam, bà lấy tên là Tống Thị Hiền, mang họ tên của chồng và dần coi đất nước này là quê hương thứ hai của mình. Từ một người phụ nữ không biết tiếng Việt, Mẹ Hiền kiên trì học nói, học văn hóa, tham gia hợp tác xã, Hội Phụ nữ,

Quảng Ninh03/07/2026Phường An Sinh (Phường An Sinh)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Theo chồng trở về đất nước xa lạ

Trước năm 1961, gia đình ông Tống Văn Hiền sinh sống ổn định tại Thái Lan. Ông làm nghề thợ may, có hộ khẩu và có đất sản xuất. Khi có chủ trương vận động Việt kiều trở về quê hương, ông mong muốn đưa vợ con về Việt Nam.

Ban đầu, ông lo người vợ Thái Lan sẽ không đồng ý rời bỏ nơi mình sinh ra và lớn lên. Nhưng bà Khăm Xón Chèm Chăn nghĩ rằng vợ chồng, con cái không nên chia lìa. Bà quyết định theo chồng, dù chưa biết Việt Nam ra sao và không nói được một câu tiếng Việt.

Tháng 4 năm 1961, khi đang mang thai người con thứ bảy được bốn tháng, bà cùng chồng và các con trở về Việt Nam. Gia đình bắt đầu cuộc sống mới trong một căn nhà tranh có vách bằng đất trộn rơm, mái lợp lá cọ. Trong nhà chỉ có hai chiếc chõng tre và một tấm phản gỗ.

Những tháng đầu, bà nhớ cha mẹ, chị em và quê hương Thái Lan đến mất ngủ. Nhưng nhìn các con quây quần bên chồng, bà tự nhủ phải cố gắng thích nghi để xây dựng cuộc sống mới.

Khó khăn nhất là không biết tiếng Việt

Gia đình được hợp tác xã cho mượn đất để trồng lúa. Mùa vụ đầu tiên gần đến ngày thu hoạch thì gặp lũ, toàn bộ lúa bị mất trắng. Để có thêm lương thực, Mẹ Hiền trồng chè, sả, gừng, mía, khoai và ngô; chồng Mẹ nhận may quần áo cho hợp tác xã để đổi lấy thóc.

Tuy cuộc sống vật chất thiếu thốn, điều khiến Mẹ cảm thấy khó khăn nhất lại là không hiểu tiếng Việt. Đi chợ, Mẹ không biết người bán nói gì; khi hàng xóm mời ăn cơm hay hỏi thăm, Mẹ cũng phải nhờ chồng phiên dịch.

Mẹ từng tâm sự rằng thiếu tiền, thiếu gạo vẫn có thể chịu được, nhưng không biết ngôn ngữ khiến mình giống như người không thể nghe và nói. Vì vậy, Mẹ quyết tâm học tiếng Việt. Chỉ sau khoảng hai năm, Mẹ đã có thể nói chuyện thành thạo với mọi người.

Khi gia đình chuyển về Nghệ An, Mẹ tiếp tục theo học lớp văn hóa tại xã. Dù chưa viết chữ thành thạo, Mẹ có trí nhớ rất tốt. Trong một kỳ kiểm tra, Mẹ xin được trả lời bằng miệng và trình bày chính xác những điều đã học về các nữ anh hùng như Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Thị Sáu và Nguyễn Thị Út. Mẹ đạt điểm tối đa.

Từ người phụ nữ ngoại quốc trở thành cán bộ địa phương

Khi đã biết tiếng Việt, Mẹ Tống Thị Hiền tích cực tham gia lao động và các hoạt động xã hội. Mẹ làm cán bộ Hội Phụ nữ xã, tham gia Hội đồng nhân dân trong chín nhiệm kỳ, công tác tại Mặt trận thị trấn Thái Hòa và có 17 năm làm trưởng xóm Đồng Tâm.

Các công việc ấy thời đó hầu như không có lương. Mẹ vẫn đi từng nhà tuyên truyền, vận động nhân dân sản xuất, giữ gìn an ninh và hỗ trợ những gia đình gặp khó khăn.

Trong những năm máy bay đánh phá miền Bắc, Mẹ học cách đào hầm và quen với cuộc sống dưới hầm trú ẩn. Khi có báo động, Mẹ đánh kẻng gọi dân làng xuống hầm, tổ chức cứu giúp người gặp nạn và nhắc mọi người không thắp đèn, không hút thuốc vào những thời điểm có thể làm lộ vị trí khu dân cư.

Nhờ sự tận tụy ấy, người dân địa phương không còn xem Mẹ là một phụ nữ từ nước ngoài tới. Mẹ trở thành người thân thuộc của xóm làng, được tin tưởng giao nhiều công việc chung.

Người con đầu tiên lên đường

Mẹ Hiền có tám người con, sáu người sinh tại Thái Lan và hai người sinh sau khi gia đình về Việt Nam. Khi trưởng thành, năm người con lần lượt tình nguyện tham gia quân đội.

Năm 1963, người con trai lớn Tống Văn Hiếu xin phép Mẹ lên đường. Trước ngày đi, anh xin một chiếc đèn pin. Mẹ lo con sử dụng ánh sáng không đúng lúc có thể gây nguy hiểm cho đơn vị nên nghiêm khắc nhắc nhở.

Hiểu được lời Mẹ, anh Hiếu cúi đầu nhận lỗi. Trước khi rời nhà, anh bế các em, dặn dò mọi người rồi nhờ một người bạn viết giúp lá thư gửi về cho Mẹ vì khả năng viết tiếng Việt của anh còn hạn chế.

Tháng 3 năm 1966, trong khi hành quân đến khu vực Rú Nài, Hà Tĩnh, Tống Văn Hiếu hy sinh trong một trận đánh phá bằng bom. Khi ấy anh mới 21 tuổi. Phải một năm sau, giấy báo tử mới được chuyển đến gia đình.

Không lâu sau khi người con đầu hy sinh, ông Tống Văn Hiền cũng qua đời vì bệnh. Mẹ Hiền vừa mất con, vừa mất người chồng đã đưa mình về Việt Nam. Người con út của Mẹ lúc đó mới chín tháng tuổi.

Mất một người con, Mẹ vẫn tiễn những người con khác

Sau khi anh Hiếu hy sinh, người con thứ hai và thứ ba là Tống Văn San và Tống Văn Xiên tiếp tục xin nhập ngũ. Mẹ Hiền không giữ các con ở lại.

Mẹ hiểu rõ sự nguy hiểm của chiến tranh, nhưng Mẹ cho rằng mỗi người dân đều có trách nhiệm với đất nước. Mẹ nói với các con rằng Việt Nam đã trở thành quê hương của cả gia đình; người anh đã lên đường thì người em cũng có quyền tiếp tục nhiệm vụ của mình.

Trước ngày đi, anh Tống Văn Xiên tự đi làm thuê, gánh củi để dành tiền mua xà phòng, khăn, bút, giấy và phong bì. Mẹ đưa cho con một chiếc chăn bông, một tấm vải dài do chính Mẹ dệt từ thời còn ở Thái Lan cùng một khoản tiền nhỏ làm hành trang.

Từ đơn vị, anh Xiên chỉ gửi về được một lá thư. Trong thư, anh cho biết đang làm nhiệm vụ tại chiến trường Lào, phải tập nói tiếng Lào và bận công tác nên không thể thường xuyên viết thư cho Mẹ.

Tháng 4 năm 1972, gia đình nhận được giấy báo tử. Tống Văn Xiên đã hy sinh tại chiến trường Đường 9 – Nam Lào, cũng ở tuổi 21 như người anh trai Tống Văn Hiếu.

Những bữa cơm luôn có phần dành cho hai người con

Trong năm người con tham gia quân đội, hai người hy sinh và hai người trở thành thương binh. Người con gái Tống Thị Nang sau này mang quân hàm Trung tá trước khi nghỉ hưu.

Sau chiến tranh, mỗi khi dọn cơm, Mẹ Hiền vẫn thường nhìn lên bàn thờ, nơi đặt di ảnh hai người con trai còn rất trẻ. Trong ký ức của Mẹ, Hiếu và Xiên vẫn là những chàng trai 21 tuổi với nụ cười trong trẻo, từng hứa sẽ hoàn thành nhiệm vụ rồi trở về với gia đình.

Mẹ chỉ có hai lần trở lại Thái Lan thăm quê hương. Dù luôn nhớ cha mẹ, chị em và nơi mình sinh ra, Mẹ khẳng định không hối hận vì đã theo chồng về Việt Nam. Tại đây, Mẹ có gia đình, bạn bè, hàng xóm và một cộng đồng luôn quan tâm, chăm sóc mỗi khi Mẹ đau ốm.

Danh hiệu dành cho người mẹ có hai quê hương

Tháng 11 năm 2014, Nhà nước phong tặng bà Tống Thị Hiền danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, ghi nhận sự hy sinh của hai người con trai và những đóng góp của Mẹ đối với quê hương, đất nước.

Đây là một trường hợp đặc biệt: Mẹ sinh ra là người Thái Lan, theo chồng về Việt Nam khi đã trưởng thành, rồi học ngôn ngữ, tham gia công tác xã hội và tiễn những người con của mình lên đường bảo vệ đất nước Việt Nam.

Mẹ Tống Thị Hiền vì thế không chỉ là biểu tượng của sự hy sinh của người mẹ. Cuộc đời Mẹ còn là một câu chuyện đẹp về tình nghĩa vợ chồng, sự hòa nhập giữa các dân tộc và tình yêu đối với quê hương do chính mình lựa chọn.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn