Mẹ Việt Nam Anh hùng

Người mẹ vĩ đại Nguyễn Thị Thứ

Bà mẹ Việt Nam anh hùng

Đà Nẵng22/08/2026Trường Đại học Sư phạm - ĐHTN (Trường Đại học Sư phạm - ĐHTN)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Người mẹ đi qua chiến tranh – Nguyễn Thị Thứ

Có những mất mát trong cuộc đời có thể gọi tên, nhưng cũng có những nỗi đau quá lớn khiến con người chỉ có thể lặng im mà chịu đựng. Chiến tranh đã đi qua, nhưng những vết thương mà nó để lại vẫn còn in sâu trong ký ức của dân tộc. Và trong những vết thương ấy, hình ảnh những người mẹ Việt Nam chính là điều khiến tôi xúc động nhất. Trong số đó, câu chuyện về bà Nguyễn Thị Thứ – một Bà mẹ Việt Nam anh hùng – luôn để lại trong tôi những suy nghĩ sâu sắc về sự hy sinh và lòng yêu nước.

Bà Nguyễn Thị Thứ sinh năm 1904 tại xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Bà xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo, quanh năm làm ruộng nên cuộc sống rất vất vả. Đến khoảng những năm 1920 bà lập gia đình và sinh được nhiều người con. Giống như bao người mẹ Việt Nam khác, bà sống giản dị, tảo tần, hy sinh tất cả vì chồng con. Cuộc đời của bà tưởng như sẽ trôi qua trong yên bình với ruộng đồng và mái nhà nhỏ, nhưng chiến tranh đã làm thay đổi tất cả.

Khi phong trào cách mạng phát triển mạnh, các con của bà lần lượt tham gia cách mạng và ra chiến trường chiến đấu. Là một người mẹ, bà hiểu rõ sự nguy hiểm nơi chiến trường, nhưng bà vẫn động viên các con lên đường vì bà hiểu rằng nếu đất nước không được độc lập thì gia đình cũng không thể có hạnh phúc.

Không chỉ có những người con trực tiếp ra chiến trường chiến đấu, mà ngay tại quê nhà, Bà mẹ Nguyễn Thị Thứ  cũng âm thầm tham gia cách mạng bằng những việc làm vô cùng nguy hiểm, đó là nuôi giấu cán bộ cách mạng. Vào những năm 1940 – 1950, khi thực dân và sau đó là địch thường xuyên càn quét, lùng bắt cán bộ cách mạng, gia đình bà đã trở thành nơi trú ẩn an toàn cho nhiều cán bộ hoạt động bí mật.

Trong khu vườn nhỏ của gia đình, bà cùng chồng và người con gái duy nhất là Lê Thị Trị đã bí mật đào những hầm đất để cán bộ trốn khi có địch đến. Những căn hầm ấy rất nhỏ, tối và ngột ngạt, nhưng lại là nơi bảo vệ sự sống cho cán bộ cách mạng. Ban ngày, cán bộ ở dưới hầm, ban đêm mới lên hoạt động. Bà là người nấu cơm, mang nước uống và canh gác cho cán bộ. Mỗi khi có động, bà giả vờ làm việc bình thường để báo hiệu cho cán bộ ẩn nấp.

Có những lúc địch đến khám xét nhà, bà vẫn bình tĩnh, che giấu bí mật. Nếu bị phát hiện, không chỉ bà mà cả gia đình có thể bị bắt, bị tra tấn hoặc bị giết. Nhưng bà vẫn không sợ, vẫn một lòng bảo vệ cán bộ cách mạng. Ngôi nhà của bà khi ấy giống như một cơ sở cách mạng bí mật, góp phần giúp phong trào cách mạng tiếp tục hoạt động.

Không những nuôi giấu cán bộ, bà còn tham gia làm liên lạc, đưa thư, đưa tài liệu, tiếp tế lương thực cho bộ đội. Những công việc ấy tuy thầm lặng nhưng vô cùng quan trọng. Chính nhờ những người dân như bà mà cách mạng mới có thể tồn tại và phát triển trong hoàn cảnh khó khăn.Bà chiến đấu không phải bằng súng, mà bằng lòng dũng cảm, sự hy sinh và tình yêu nước của mình.

Nuôi con cháu trong cảnh lận đận, đói nghèo nhưng khi Tổ quốc cần, mẹ Thứ động viên, tiễn các con ra chiến trường. Mẹ Thứ có 12 người con (11 trai và 1 gái) thì 9 con trai hy sinh. Con đầu và cũng là con gái duy nhất - bà Lê Thị Trị là thương binh, cũng được trao tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng (VNAH) khi có chồng và 2 con gái là liệt sĩ. Như vậy gia đình mẹ Thứ có 12 liệt sĩ.

Ngày 18-6-1948, anh Lê Tự Xuyến – chiến sĩ giao liên bị Pháp bắn tại đầu làng. Ngày 5-10-1948, con trai Lê Tự Hàn Anh hy sinh khi làm nhiệm vụ tải thương. 10 ngày sau, con trai Lê Tự Hàn Em ngã xuống trong trận chống càn. Con trai Lê Tự Lem tròn 20 tuổi hy sinh trong lúc chiến đấu ở huyện nhà vào tháng 4-1954. Trong vòng 6 năm, mẹ Thứ mất 4 người con, đau thương dồn dập nhưng cứ khi con trưởng thành, mẹ lại động viên, tiễn con ra chiến trường.

 

Tháng 9-1966, con trai Lê Tự Nự hy sinh. Năm 1972, anh Lê Tự Mười và anh Lê Tự Trịnh hy sinh. Năm 1974, anh Lê Tự Thịnh – Ðại đội trưởng bộ đội ở huyện Duy Xuyên hy sinh trong lần chỉ huy đơn vị đánh đồn giặc. Con trai cả Lê Tự Chuyển – chiến sĩ biệt động Sài Gòn hy sinh vào 9 giờ ngày 30-4-1975 ngay trên cầu Rạch Chiếc ở cửa ngõ vào Sài Gòn, chỉ trước vài giờ đất nước thống nhất.

Người ta kể lại rằng, mỗi lần nhận giấy báo tử của con, bà đau đớn lắm, nhưng bà không khóc trước mặt mọi người. Bà chỉ lặng lẽ thắp hương cho con rồi ngồi rất lâu trước bàn thờ. Nỗi đau của bà không thể nói thành lời, đó là nỗi đau của một người mẹ mất con, mà lại mất hết người con này đến người con khác.


Không ai có thể tưởng tượng nổi nỗi đau ấy lớn đến mức nào. Đó không chỉ là mất mát về tình thân, mà còn là sự trống vắng đến tận cùng của một người mẹ. Thế nhưng, điều khiến mọi người kính phục chính là cách bà đối diện với nỗi đau đó. Bà không gục ngã, không oán trách số phận. Bà chọn cách im lặng, chấp nhận và tiếp tục sống.

Có người từng hỏi bà: “Mẹ có đau không khi mất đi nhiều người thân như vậy?”

Bà chỉ nhẹ nhàng đáp:

“Nước còn giặc thì còn phải đánh, còn người thì còn phải đi.”

Câu nói ấy giản dị nhưng chứa đựng một ý chí mạnh mẽ và một trái tim lớn lao. Đó không chỉ là lời của một người mẹ, mà còn là tiếng nói của cả dân tộc Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh.

Sau ngày đất nước thống nhất, bà được trao tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam Anh hùng vào năm 1994. Trân trọng với những gì các Bà mẹ Việt Nam anh hùng đã cống hiến cho tổ quốc, cho Nhân dân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, Đảng và Nhà nước đã thống nhất xây dựng tượng đài Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, lấy nguyên mẫu Mẹ Nguyễn Thị Thứ. Công trình đã được khởi công vào

ngày 27/7/2009, tại Núi Cấm (thôn Phú Thạnh, xã Tam Phú, Tam Kỳ, Quảng Nam).

Nhưng có lẽ, điều vĩ đại nhất ở bà không nằm ở những danh hiệu, mà nằm ở chính con người bà – một người mẹ bình dị nhưng mang trong mình sức mạnh phi thường. Bà đã biến nỗi đau thành lòng kiên cường, biến mất mát thành niềm tin vào tương lai của đất nước.

Bà sống đến năm 2010, hưởng thọ 106 tuổi. Cuộc đời hơn một thế kỷ của bà đã trải qua biết bao đau thương mất mát của chiến tranh, nhưng bà vẫn luôn sống giản dị, hiền hậu và được mọi người kính trọng.

Khi nghĩ về bà, tôi chợt nhận ra rằng: Cuộc sống bình yên hôm nay không phải là điều tự nhiên mà có. Nó được đánh đổi bằng máu, bằng nước mắt, và bằng cả những trái tim người mẹ đã chịu đựng nỗi đau không gì bù đắp được.

Khép lại câu chuyện về Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ, trong lòng tôi vẫn còn đọng lại một niềm xúc động và biết ơn sâu sắc. Cả cuộc đời bà là những năm tháng hy sinh và chịu đựng mất mát mà không phải ai cũng có thể vượt qua. Bà đã tiễn chồng, tiễn con, tiễn cháu ra chiến trường rồi lặng lẽ ở lại với nỗi đau và sự chờ đợi trong vô vọng. Nhưng vượt lên trên tất cả nỗi đau ấy là lòng yêu nước, là sự kiên cường và đức hy sinh cao cả của một người mẹ Việt Nam. Bà không chỉ là mẹ của những người con đã hy sinh, mà còn là người mẹ của cả dân tộc Việt Nam. Sinh thời, Bác Hồ đã từng nói: “Nhân dân ta rất biết ơn các bà mẹ cả hai miền Nam Bắc đã sinh đẻ và nuôi dạy những thế hệ anh hùng của nước ta”(Hồ Chí Minh toàn tập). Tuổi trẻ hôm nay có thể không biết đến đạn bom, không tận mắt chứng kiến những đau thương mất mát trong 2 cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc, nhưng họ đều hiểu rằng cái giá của cuộc sống hôm nay là sự hy sinh của nhiều thế hệ lớp người đi trước đã anh dũng hy sinh, là những nỗi đau, sự mất mát lớn lao của những người mẹ Việt Nam anh hùng.

Ngày nay, khi chúng ta được sống trong hòa bình, được cắp sách đến trường, được sống bên gia đình, chúng ta càng thấm thía hơn sự hy sinh to lớn của những người đi trước. Có lẽ, chúng ta sẽ không bao giờ hiểu hết được nỗi đau mà bà đã trải qua, nhưng chúng ta có thể hiểu được rằng: Hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng máu, nước mắt và cả cuộc đời của biết bao con người, trong đó có Bà mẹ Nguyễn Thị Thứ. Vì vậy, thế hệ trẻ hôm nay phải biết trân trọng cuộc sống, biết ơn lịch sử, sống có trách nhiệm và cố gắng học tập thật tốt để trở thành người có ích cho xã hội. Đó chính là cách thiết thực nhất để chúng ta bày tỏ lòng biết ơn đối với Bà mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Thứ và những người đã hy sinh vì Tổ quốc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn