Mẹ Việt Nam Anh hùng

Người mẹ Việt Nam anh hùng Võ Thị Xử ra đi khi cuộc chiến vẫn đang còn ác liệt

Mẹ Võ Thị Xử đã hiện diện trong sổ vàng số 583, mà Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã kí tặng với Quyết định số 438/KTCTN ngày 24/4/1995.

Đồng Nai28/10/2026Võ Thị Ngọc Bích (Đoàn phường Long Khánh)3 lượt xem0 lượt chia sẻ
Người mẹ Việt Nam anh hùng Võ Thị Xử ra đi khi cuộc chiến vẫn đang còn ác liệt

Võ Thị Xữ (1910–?)

Mẹ đã hiện diện trong sổ vàng số 583, mà Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã kí tặng với Quyết định số 438/KTCTN ngày 24/4/1995. Bằng và huân chương của mẹ đã được đặt trang nghiêm trong ngôi nhà tranh vách lá của người cháu nội độc nhất của mình tại ấp 2 xã Gia Canh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai (trước đây).

Mẹ Võ Thị Xữ sinh ra tại làng Tham Hội, xã Bình Thanh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi vào năm 1910. Quê mẹ có cánh đồng phẳng lỳ dưới chân các ngọn đồi nhấp nhô. Các ô ruộng ngang dọc như bàn cờ, con đường nhỏ dẫn về thôn xóm ẩn hiện sau những lũy tre làng. Quê mẹ có dòng sông Trà Khúc, uốn mình qua các xóm làng nhẹ nhàng đổ ra đại dương hùng vĩ, trầm lắng, kiềm trì xô những con sóng bạc đầu vào bãi cát vàng cố lũy. Từ thuở xa xưa, ông cha đã cảm nhận cái cảnh đẹp thời bình, cảm hứng cất lên câu hát:

Ngó vô Thanh, Gióng giao kề

Tiếng oan anh chịu, em về tay ai

Từ lúc sinh ra và cho đến cuối cuộc đời, mẹ chẳng được hưởng một phút giây thanh bình, để được cất lên những điệu hò giao duyên, những khúc tình ca về quê hương xứ sở. Trên thửa ruộng, người nông dân quê mẹ phải chịu nhiều khổ cực dưới nhiều tròng áp bức, chiến tranh và sự tàn phá. Người phụ nữ chịu đựng sự hy sinh. Mẹ đi lấy chồng, sinh con và tiễn chồng con lên đường bảo vệ quê hương, làng xóm.

Hiệp định Genève ký kết chưa được ráo mực, Mỹ đã vội vàng hất cẳng Pháp, can thiệp vào miền Nam Việt Nam, đưa Ngô Đình Diệm từ Mỹ trở về Sài Gòn tự xưng là “tổng thống”. Tháng 10/1954, quân đội Sài Gòn chia thành hai cánh tiếp quản tỉnh Quảng Ngãi, lập nên chính quyền “quốc gia”, ra sức tung ra mạng lưới mật vụ để thực hiện chính sách “tố cộng, diệt cộng”..., khủng bố, đánh đập, giết bắn những người kháng chiến cũ. Quê mẹ trở thành “điểm đỏ trên bản đồ quân sự của Hoa Kỳ”. Những cuộc thảm sát tàn khốc ví như những hành động ở Lidice và Oraduor.

Những người dân ở làng mẹ cứ nhớ mãi cái buổi sáng khủng khiếp ngày 16/3/1968 tại làng Sơn Mỹ, nơi cách làng mẹ có vài cây số. Những đứa con của làng biến nỗi đau thương thành hành động. Lớp lớp lên đường, nhà nhà thành pháo đài đánh giặc. Ai cũng đào hầm, cũng nuôi giấu cán bộ và sẵn sàng cầm súng bắn vào quân thù. Những người lính trẻ ẩn hiện sau lũy tre làng, sau rặng dừa nước, từ dưới đất xông lên đánh địch chớp nhoáng. Họ vẫn lặng lẽ “đi không dấu, nấu không khói, nói không nghe”, nhưng gắn chặt với dân làng của họ, như thách thức với những kế hoạch “tìm và diệt” của kẻ thù.

Năm 1965, anh Đỗ Điền, con của mẹ, từ giã người mẹ già, người vợ hiền và đứa con thơ, lên đường trả thù nhà nợ nước. Bốn năm sau, người chiến sĩ du kích trở về làng, cùng đồng đội của mình tấn công làng Quế Võ. Người lính sau bốn năm trở lại với nỗi nhớ thương mẹ già, vợ hiền và con dại, mong lập được chiến thắng trên quê hương, giải phóng xóm làng và ôm chầm lấy mẹ. Nỗi niềm ước vọng tràn đầy của anh chưa được thực hiện, anh đã hy sinh. Ngày ấy, cái ngày 25/4/1969, mẹ thật sự mất đi người con duy nhất, mà bao tình yêu thương trên cõi đời mẹ đều dành trọn cho con.

Nỗi đau của mẹ từ nỗi đau chiến tranh tàn khốc và ác liệt. Những dòng ký ức ùa về khiến trái tim mẹ như nghẹn lại. Năm 1953, ông Đỗ Nự, chồng của mẹ, bị chết, ông chết cũng chỉ vì chiến tranh. Kháng chiến chống Mỹ, mẹ ẵm con, không biết bao nhiêu lần chạy xuống hầm tránh đạn. Đã bao nhiêu lần mẹ phải nằm xuống bờ ruộng trong lúc làm đồng vào mỗi lần nghe giặc pháo kích, mỗi lần đàn máy bay lượn vòng trên quê mẹ. Nghe tin con hy sinh, nước mắt mẹ lăn tròn trên gò má gầy. Mẹ nào chẳng nhận được xác con, song mẹ chỉ biết âm thầm tiễn con qua làn nước mắt, vùi đầu trong màn đêm sâu thẳm và khóc.

Chiến tranh làm mẹ gầy gò thân xác, sức của mẹ dần cạn kiệt, rồi mẹ cũng ra đi khi cuộc chiến vẫn đang còn ác liệt. Người cháu của mẹ còn lại phải mồ côi cha từ bốn tuổi, lên mười lăm thì mẹ cũng qua đời. Chiến tranh làm cho bao gia đình lưu lạc, anh cũng lạc mẹ, xa bà từ dạo giặc càn đến làng và giờ đây anh cũng chẳng biết bà của anh mất từ thuở nào.

Năm 1984, anh đơn độc đến Định Quán nơi đến bình yên để có một gia đình và phát triển một cuộc sống mới. Năm 1994, nghe tin bà được phong tặng anh hùng, anh trở lại quê rước vong linh và kỷ vật của bà vào cùng gia đình mình để được thắp nhang, cúi đầu trước vong hồn bà, một Bà mẹ Việt Nam Anh hùng.

 

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn